LỜI GIỚI THIỆU

Website  honguyenquancong.com là kênh thông tin chính thức của dòng họ

Nguyễn Huế - Gia Định, là diễn đàn trao đổi giữa các chi họ Nguyễn trong

và ngoài nước. Ban quản trị Website mong muốn nhận được bài viết, hình

ảnh về các hoạt động của các chi họ để trang Web thêm phong phú, đa dạng.

Mọi thông tin xin gửi về địa chỉ Email: honguyenquancong@gmail.com hoặc

duyhung12258@gmail.com. 

Tổ Phi lai Hòa thượng Thích Chí Thiền (1861-1933)

Nguyễn Ngọc Duy – Hậu duệ đời thứ bảy của Đức Quận công Nguyễn Văn Thành

Nam mô Tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật

Nam mô Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật

Kính Quận công Nguyễn Văn Thành

Kính đức Hòa thượng Chí Thiền Tổ Phi Lai

Kính chào quý vị!

Tôi là một kẻ hậu học có duyên được viết về Tổ Phi Lai. Tôi không trực tiếp gặp được Tổ, không được sống trong hoàn cảnh cũ, không phải là người am tường pháp Phật, lúc viết bài cũng gặp ít nhiều khó khăn. Nhưng thiết nghĩ ta cứ viết, ta cứ dùng tấm lòng chân thật mà làm để tái hiện lại cuộc đời và phương pháp thực hành đạo Phật của Tổ được hay không được đó cũng là một niềm vui. Ngài là người tu có chứng đắc, có những cái biết về vị lai, tôi cảm giác rằng nó nằm rải rác ở đâu đó mà chúng ta cần phải góp nhặt để cho thấy đó là  Hòa thượng Phi lai, là điều mà Chí Thiền làm. Cuộc đời của Ngài là ngọn đuốc cho người tu nương đó mà hiểu Đạo, cho người hiểu Đạo biết tương lai của mình phải làm sao.

Trong quá trình viết về lịch sử của Tổ đựợc sự giúp đỡ của thầy Huệ Hải chùa Từ Quang, thầy Minh Thanh chùa Bửu Sơn, thầy Minh Thiện chùa Phước Ân,...anh Năm, anh Sáu, cô Sáu....cùng với sức gia hộ của Ngài nên tôi viết cũng khá nhưng  quá trình này chưa hoàn tất, đây mới chỉ là bứơc đầu, mong được giúp đỡ, cộng tác của quý vị để bài viết ngày càng hoàn thiện hơn.

Mọi thông tin xin liên hệ chùa Phước Ân, Ấp Phú Ân, Xã Phước Lý, Huyện Cần Giuộc, Tỉnh Long An. Điện thoại 0723892946, Email ngngduy@yahoo.com

Chùa Phước Ân viết lần 1, ngày 2 tháng 3 năm 2553 (2009)

Chùa Phước Ân viết lần 2, ngày 7 tháng 11 năm 2557 (2013)

I. Thân thế

Năm 1817, sau vụ án của Quận công Nguyễn Văn Thành, một trong những người con của Quận Thành là ông Nguyễn Văn Hân (1812 -1865) lúc này còn quá nhỏ phải ở lại chịu tang cha, cho đến năm 1820, mới theo người anh là Nguyễn Văn Hàm chạy vào Gia Định, tới Quảng Nam thì gặp Vũ Trinh nên Hàm gởi tạm Hân ở đây. Năm 1828 Vũ Trinh trở về quê còn ông Hân tiếp tục ở lại Quảng Nam, năm 1858 Hân cưới vợ sinh được bốn người con, đến năm 1868 vua Tự Đức có chiếu tha tội cho Quận Thành có dời Hân ra làm quan. Hòa thượng Phi Lai là người con thứ 2 trong gia đình tên thật là Nguyễn văn Hiển sinh tháng 2 năm Tân Dậu (1861) tại huyện Duy Xuyên, Tỉnh Quảng Nam. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống, thân phụ ông làm quan Bố Chánh ở Hội An, Quảng Nam. Cha ông qua đời khi ông còn nhỏ tuổi, ông thụ hưởng dòng máu của Quận Thành cùng với truyền thống dạy dỗ rất chu đáo, nghiêm khắc, nề nếp của gia đình. Do thế ông là người biết cả văn lẫn võ ông chịu ảnh hưởng nhiều bởi ba tư tưởng Khổng, Lão, Phật, riêng ông vốn là người có bản tính hiền lành và hay giúp đỡ người khác.

Tới đây tôi xin giới thiệu đôi dòng về hoàn cảnh xã hội Tổ Phi Lai đang sống. Theo sách Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (Trang 261) cho rằng " Con đường làm quan được mở rộng cho tất cả mọi người: “Trong luật pháp cũng như trong phong tục, không có trở ngại nào cấm cản người dân nghèo nhất học hành để làm các chức quyền chính trị cao nhất. Thực vậy, các chức vụ nhà nước dành cho tất cả những ai mà tài học đã được các kỳ thi công nhận, nghĩa là cho tất cả những ai chứng thực rằng họ đã có những hiểu biết văn chương và đạo đức cần thiết để làm tròn nhiệm vụ của chức quan, “Biết chữ, làm quan, đó là kỳ vọng lớn nhất của bất cứ người An Nam trẻ nào”. Hệ thống này là động cơ thực sự duy nhất của sự thăng tiến xã hội, con đường duy nhất cho giới thanh niên tiến tới một chức vị xã hội cao đồng thời được danh vọng và giàu sang.

Từ đó, đối với người con trai, đức tính quan trọng nhất là sự thông minh. Lời khen tặng lớn nhất nói với cha mẹ:”Con của ông bà thông minh, nó sẽ có một tương lai tốt. “ Trong môi trường chính trị xã hội này, việc tham dự các kỳ thi tuyển, đỗ tiến sĩ, trở thành tri thức, hoặc nhân sĩ, hoặc quan chức, gây một uy tín rất lớn, chẵng những cho người đỗ đạt mà còn cho gia đình và cho quê hương nữa. Người ta làm lễ đón rước người thi đỗ từ kinh đô về làng chôn nhau cắt rốn (lễ Vinh quy). Lại nữa, những người thi đỗ từ hạng thứ nhất đến hạng thứ ba của kỳ thi tuyển cuối cùng được triều đình cho phép dựng bia đá nêu cao danh vọng.

Người ta học nhiều cốt để thi đỗ, chứ không khi nào học chỉ để tăng kiến thức, hay hơn nữa, để đào sâu một vấn đề triết học. Sự chuyên cần là hoàn toàn về mưu cầu lợi ích. Tuy nhiên, phải nhận thấy rằng thái độ này, trên căn bản cách biệt với những quan niệm Tây phương hoặc ngoại quốc trong mức độ người Viêt Nam khi có mục đích làm quan thì thường giữ một cung cách không hám lợi. Đó không có nghĩa là họ khinh tiền tài, mà trái lại rất nhiều quan chức lợi dụng địa vị của họ để thu gom của cải; và điều này được xã hội chấp nhận như là hệ quả của chức vụ, tuy nhiên chức vụ đã tạo uy tín trước khi tạo ra tiền bạc." Qua thông tin trên cho biết định chế của xã hội lúc này thì việc làm quan là một tiêu chí quan trọng bậc nhất để đánh giá sự thành đạt của con người. Ông Phi Lai đã làm được điều này và ông còn suy ngẫm thêm những vấn đề khác của xã hội thời bấy giờ.

Cũng theo Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa ta thấy rằng người Việt hầu như bất lực trong việc đối phó với người Pháp, (Trang 254) "Cuộc đụng độ giữa Nguyễn Tri Phương và Jean Dupuis kéo dài dù có sự dàn xếp của giám mục Puginier. Lúc bấy giờ Tự Đức làm một việc vụng về nghiêm trọng là yêu cầu thống đốc Nam Kỳ thuộc Pháp giúp đỡ và thống đốc đã cử Francis  Garnier ra Bắc Kỳ với nhiệm vụ “ cào bằng” “vụ Dupuis”. Garnier cũng vấp phải sự không khoan nhượng của Nguyễn Tri Phương thế nên quyết định chiếm thành Hà Nội. Ngày 20-11-1873, vào bảy giờ sáng, thành bị chiếm: Phương bị thương nặng vì trúng một mảnh đạn trái phá và con ông là Nguyễn Lâm bị giết. Một tháng sau, Phương từ trần, ngày 20-12.

Cái chết của Phương cũng là một biểu tượng, bởi vì nguyên nhân gây ra cái chết ấy, một mặt, là sự không nhất quán trong chính sách ngoại giao của Tự Đức – khi cầu viện thống đốc Nam Kỳ thuộc Pháp, triều đình Huế đã đưa nước Pháp đến chỗ can thiệp ở Bắc Kỳ - mặt khác, là sự yếu kém trong công cuộc phòng thủ của người Việt Nam: 188 thủy thủ hay binh sĩ Pháp và 24 người châu Á chỉ với 8 họng súng đủ chiếm một tỉnh thành được bảo vệ bởi những lực lượng thiện chiến nhất của Việt Nam, từ Huế ra, gồm 7000 người, dưới quyền lãnh đạo của viên tướng tài nhất của họ - cho ta khái niệm về sự yếu kém về hỏa lực trong thành và về trang bị của binh lính Việt Nam"

Trước tình hình đất nước như vậy, vào năm Mậu Dần (1878), vua Tự Đức bổ nhiệm ông làm quan Hậu Bố tại tỉnh Khánh Hòa Mặc dù làm quan, nhưng vì có nghĩa khí cộng với lòng yêu nước nồng nàn, nên ông bí mật cùng anh mình tham gia phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp. Mặc dù chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn chưa đầy hai năm 1885-1887, Trong thời gian nghĩa hội Quảng Nam hoạt động, người Pháp đang xây dựng con đường chiến lược từ Huế qua đèo Hải Vân tới Đà Nẵng trong kế hoạch khai thác thuộc địa cũng như để đàn áp các lực lượng nổi dậy. Đích thân Tổng tư lệnh lực lượng quân Pháp ở Bắc và Trung Kỳ De Courcy đã ra lệnh cho tướng Prud'Homme điều động công binh và buộc vua Đồng Khánh phải huy động phu dịch để làm đường. Gần 2.000 dân phu Quảng Nam và Thừa Thiên Huế được huy động thi công con đường này, nhiều người bỏ trốn và thiệt mạng vì chế độ lao động quá khắc nghiệt.

Từ Tân Tỉnh, nghĩa quân của Nguyễn Duy Hiệu tổ chức cuộc tập kích vào đơn vị của đại úy công binh chịu trách nhiệm thi công đường Huế-Đà Nẵng Besson vào đêm ngày 28 tháng 2, rạng sáng ngày 1 tháng 3 năm 1886, tiêu diệt tại chỗ đại úy Besson, một trung sĩ công binh và sáu lính thủy đánh bộ tại Nam Chơn.

Sau trận đánh nói trên, mà người Pháp coi là "một biến cố đau thương vừa xảy ra ở Trung Kỳ" (điện của Prud'Homme ngày 8 tháng 3 năm 1886), chính quyền thực dân càng quyết tâm tiêu diệt lực lượng nổi dậy. Trên đất Quảng Nam, 36 đồn bốt mới được thành lập. Kết hợp sức mạnh quân sự và chính sách dụ dỗ, ly gián, quân Pháp dần đẩy lực lượng nổi dậy vào thế cùng.Tháng 10 năm 1887, sau khi Nguyễn Duy Hiệu bị Pháp bắt và xử chém, Phan Bá Phiến uống thuốc độc tự tử để khỏi rơi vào tay kẻ thù, Nghĩa hội Quảng Nam tan rã. http://vi.wikipedia.org/wiki)

Tháng 7 năm 1886 phong trào bị thực dân Pháp đàn áp rất dã man, Anh ông và ông bị bắt trong một trận vây càn của Pháp tại thánh địa Mỹ Sơn, do cần nhân lực để tiếp tục xây dựng đường xá, nên người Pháp đã giữ lại mạng sống cho các ông.  Ông may mắn thoát chết, trốn thoát, chạy lánh nạn vào nam. Ông vào tới Gia Định để tránh sự lùng bắt của mật thám Pháp và triều đình nhà Nguyễn, cũng như để tránh liên lụy đến gia đình.

II. Những ngày ở đất Gia Định

Năm 1886, để ẩn mình ông vào tu chùa Giác Viên, Chợ Lớn, được sư Phương Minh húy là Minh Mai (đệ tử thiền sư Hải Tịnh) thu nhận làm đệ tử đời thứ 39 của dòng Lâm Tế Gia Phổ với tên Chí Thành (do cử tên ông nội nên sau này đổi thành Chí Thiền) húy Như Hiển. Về sau ông có học thêm với thiền sư Hoằng Ân húy Minh Khiêm. Trong thời gian này ông theo thầy tổ để học đạo, sống rất kham khổ và phát nguyện sửa cầu, bồi lộ, bửa củi, gánh nước, giã gạo... suốt ba năm. Sau đó phát nguyện đóng chuông ngày sáu thời ròng rã suốt ba tháng, tiếp theo ông đấp đất xây nền chùa Giác Viên ngày trăm xe cho đến khi hoàn tất (vùng này lúc đó là một vùng đầm lầy), lại nguyện nhập thất tu tập thêm ba năm nữa.

Ông cùng thầy của mình được sư Hoằng Ân chuyển qua lo xây dựng chùa Giác Sơn, khi chùa được khánh thành năm Đinh Hợi (1887) Thiền sư Phương Minh làm trụ trì (hòa thượng Giác Sơn) còn ông được cử làm thủ tọa coi sóc trong ngoài chùa Giác Sơn,. Chẳng bao lâu sau Hòa thượng Phương Minh viên tịch vào ngày 8 tháng 10 năm Kỷ Hợi (1899), ông lại trụ trì chùa Giác Sơn. Đầu năm Nhâm Ngọ(1900), sau khi sắp đặt mọi chuyện trong chùa xong ông giao trả chùa Giác Sơn lại cho sư Hoằng Ân để rồi sau thiền sư Hoằng Ân giao lại cho Hòa thượng Từ Phong húy Như Nhãn trụ trì.

III. Lập chùa Phi Lai

Khoảng cuối năm Nhâm Ngọ (1900), Ngài cùng một đệ tử từ giã hết tất cả huynh đệ mang xương cốt của thầy mình đi thẳng vào vùng núi Thất Sơn (thuộc tỉnh An Giang ngày nay) một mặt là để ẩn dật tu hành, mặt khác là để quyết chí làm việc lớn.

Ban đầu Ngài ở tại núi Cấm (ở vị trí chùa Vạn Linh hiện nay) một thời gian sau Ngài được thỉnh về trụ trì tại chùa Phi Lai (hay còn gọi là Phi Lai cổ tự) tại Xã Tú Tề Nguyên là ngôi chùa vách đất, vắng vẻ hoang vu. Ngài đã mộ dân phu, Phật tử, cùng hương chức địa phương khẩn hoang thành lập các nông trại làm ruộng. Ngoài ra Ngài còn tổ chức mua bán khoai, muối... để có kinh phí xây dựng chùa, giúp đỡ mọi người trong cơn khốn khó.

Đây vốn là vùng biên giới Việt Miên nhiều khó khăn như vấn đề kì thị chủng tộc, dân chúng nghèo khổ, giặc cướp nổ ra liên miên, thế lực của quân Pháp, sự phá hoại của thầy bùa, thầy pháp địa phương.Nhưng Ngài đã biến nơi đây thành chốn già lam đông đúc các Tăng ni tín đồ đến thọ pháp, một ngôi chùa thật đẹp được xây dựng nên, cuộc sống người dân quanh vùng có nhiều biến đổi mới mẻ, góp phần chan hòa được đời sống vật chất lẫn tinh thần của hai dân tộc Việt Miên.

Uy tín và tên tuổi của Ngài ngày càng lan xa và chùa Phi Lai trở thành nơi gặp gỡ bí mật của các nhà cách mạng yêu nước thời bấy giờ. Trong số đó có cuộc hội ngộ giữa   Phan Bội Châu và Ngài vào năm Quý Mão (1903). Ngài từng căn dặn Phan Bội Châu rằng: ...Phàm muốn làm việc gì bí mật, có bàn bạc với nhau, chỉ nên ở giữa trời xanh, ngày trắng, hoặc ở đồng trống đường to, không nên ở chỗ đêm khuya, nhà kín, tai mắt mình không thể phòng được xa, chỉ làm thêm cơ hội những ai muốn rình xét...

Vào tháng hai năm Giáp Thìn (1904), có cuộc gặp gỡ giữa Ngài và Cường Để tại Quảng Nam Trong lần gặp gỡ này, Ngài đảm nhận nhiệm vụ về Nam hoạt động hỗ trợ cho phong trào yêu nước chống thực dân Pháp. Ngài quả thật là một người tu hết lòng vì nước vì dân, hai vai nặng một ghánh giang sơn.

IV. Hoạt động hoằng pháp

Đất nước Việt Nam từ triều vua Tự Đức trở về sau, phải gánh chịu rất nhiều thiên tai lũ lụt. Nhất là trận bão lụt lớn năm Giáp Thìn (1904) đã cuốn trôi hàng ngàn nhà cửa, ruộng vườn, súc vật, tài sản và ngay cả mạng sống con người thị xãGò Công(thuộc tỉnh Tiền Giang ngày nay). Trước tình cảnh vô cùng nguy khốn và cấp bách đó Ngài đích thân quy nạp ghe thuyền và cùng với sự trợ giúp đắc lực nhân dân địa phương và các Tăng ni tín đồ thị xã Gò Công, trực tiếp cứu sống được rất nhiều người đang bị nước cuốn trôi. Suốt một tháng sau đó có khoảng gần năm mươi xác người chết trôi được đem về mai táng và được Ngài làm lễ cầu siêu trong vòng bốn mươi chín ngày liền.

Một đêm Ngài nằm mơ thấy ông lão đến dâng đồ tang phục,Ngài biết là điềm cốt nhục chia ly, vội vã về quê thăm thân mẫu, thì bà cụ đã qua đời nhằm ngày 15 tháng 12 năm Giáp Thìn (1904) âm lịch. Ngài đã ở lại đến chung thất rồi từ giã hương thân phụ lão trở lại chùa Phi Lai.

Trận lũ lụt tại vùng đồng bằng sông Cửu Long vào mùa mưa năm Đinh Mùi (1907), tỉnh Châu Đốc cũng bị tổn thất mùa màng nặng nề, thiệt hại nhân mạng, nhà cửa rất nhiều, nạn đói kém lan tràn khắp nơi. Vì lòng từ bi và xả thân vì chúng sinh Ngài đã đứng ra hô hào kêu gọi sự giúp đỡ khắp nơi và đem cả lương thực của chùa ra phân phát cho các người gặp nạn.

Thêm vào đó, Ngài còn đốc thúc ghe xuồng cứu vớt và nuôi dưỡng khoảng 500 nhân mạng của làng Tú Tề tị nạn lên núi và ở ngay trong chùa, chờ cho đến khi nạn lụt lội qua khỏi. Ngài còn lập đàn Dược Sư 49 ngày cầu cho mưa thuận gió hòa, phát nguyện tịch cốc, chỉ ăn rau trái, suốt 12 năm liền để chịu khổ thay cho dân. Trong thời gian này Ngài thường lên núi Voi hay núi Cấm ngồi thiền, được khỉ dâng cây trái và gặp gỡ nhiều cao nhân đắc đạo khác. Sau sự kiện này, tên tuổi và đức độ của Ngài càng được nhiều người biết đến.

Năm Đinh Tỵ (1917), sau vụ ông Bảy Do - chưởng giáo Nam Cực Đường bị bắt, vì ở gần núi Cấm nên Pháp nghi ngờ Ngài có liên lạc với Bảy Do cùng với việc Ngài ngày càng được lòng tin của quần chúng, nên bị mật thám Pháp theo dõi và vu cho là làm quốc sự. Chúng trở nên điên cuồng và bắt giam Ngài tại khám lớn Sài Gònhơn mười tháng trời. Chúng tìm đủ mọi cách để bắt buộc Ngài chỉ điểm các tổ chức kháng chiến chống Pháp trong vùng và hứa sẽ tha ngay. Nhưng Ngài một mực từ chối và đã trả lời rằng: "Nếu người Pháp không thả thì ở trong khám tôi vẫn tu", nhưng sau thấy không đủ chứng cớ nên đành phải thả Ngài ra. Chính quyền thực dân còn bắt Ngài đắp con lộ từ chợ Doi ra tới ngã ba, cho lính canh gác hằng ngày, thậm chí còn cho người giả vờ đi tu để theo dõi Ngài ... , nhưng với tài trí khôn khéo và lòng kiên trì Ngài đã vượt qua được mọi cạm bẫy của quân thù.

Có cốt tượng Phật cổ bằng vàng ở chùa Tà Lạp, báo mộng cho ông Lục cả đòi về chùa Phi Lai, các ông Lục bèn tìm cách thử Ngài bằng cách bỏ thuốc độc vào một trái dừa và mời xem Ngài có dám uống hay không. Bình thường Ngài không thích uống dừa biết ý các ông Lục sai người thử Ngài nên Ngài ngang nhiên uống nước dừa rồi âm thầm uống thuốc giải độc. Người Miên đợi hoài mà thấy Ngài không chết, bèn vô làm lễ xin Ngài tha tội. Vì nể phục Ngài nên các đức Sãi cả chùa Tà lạp Cao Miên hội đồng lại tổ chức một cuộc lễ rất long trọng, đông đảo như sau: mấy ông Lục cả cỡi voi, Lục nhỏ đi bộ, có giàn nhạc theo nghi lễ của Cao Miên, cả hai sốc dân Cao Miên đều đưa theo đến chùa Phi lai, đến trước sân làm lễ đi quanh chùa ba vòng rồi mới đem dâng tượng Phật vào chính điện. Điều này càng chứng tỏ sự khôn ngoan, gan dạ và đức hạnh to lớn của Ngài.

Ngài bảo với đệ tử mình:’ con niệm Phật làm sao mà con nghe tiếng lá rụng, tiếng chim hót cũng như tiếng niệm Phật vậy’. Hay Ngài nói:’ Tu học kinh sách thì dễ, biết hay không là ở chỗ thực hành’.Phía sau núi Voi (Bà Khét) có hai loại rau gần tương tự nhau một loại ăn được, một loại ăn vào sẽ bị đi ngoài, một hôm nọ đệ tử ngài do sơ ý đã luộc loại rau không ăn được cho ngài ăn. Khi mọi người phát hiện chuyện đó đều rất lo lắng cho sức khỏe Ngài nhưng ngài vẫn bình yên đi nghĩ trưa và tỏ vẻ rất ngạc nhiên khi thức dậy thấy mọi người quây quần bên mình. Sau khi nghe mọi người thuật lại sự việc Ngài cười và bảo: ‘Ta không sao, mọi người cứ đi làm việc của mình đi’.Ngoài những đệ tử là tăng ni, Ngài còn kết giao hoặc thâu nhận làm đệ tử những người là thầy bùa, thầy pháp, thầy võ người Ấn, người Miên, người Việt, ăn cướp, những người bị triều đình và Pháp truy đuổi, thậm chí còn có một số con vật như rùa, chim, khỉ.

Bằng những hành động cụ thể Ngài đã dốc lòng tích cực tham gia vào thời kỳ đầu phong trào chấn hưng Phật giáo thời bấy giờ. Vào năm Đinh Mão (1927) Ngài tham dự buổi lễ khai giảng lớp học cho các Ni tại chùa Giác Hoa ở tỉnh Sóc Trăngđây là trường Gia giáo đầu tiên ở miền Tây Nam Bộ. Năm Kỷ Tỵ (1929) Ngài tham gia lễ Đại giới đàn chùa Trùng Khánh tại Phan Rang.Năm Nhâm Thân (1932), sư Khánh Hòa cổ xúy phong trào chấn hưng Phật giáo thành lập hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học, Ngài tham gia ủng hộ 300 đồng bạc và vận động khuyến khích Phật tử khắp nơi tích cực ủng hộ hội.

Cũng năm này, Ngài có bị một ung nhọt phía sau lưng lan rộng rất nhanh, sâu vào tới tận xương, nhưng chúng đệ tử không hề nghe ngài than vãn. Sau có ông thầy Tàu tới cho một số thuốc cao dán Ngài thọ dùng và lành được vết thương.Một năm sau, vào năm Quý Dậu (1933), Ngài thấy duyên mình đã  hết nên hẹn vào ngày rằm tháng hai năm ấy về gặp chư Phật, hưởng thọ 73 tuổi, để lại bao nhiêu thương tiếc cho người đời.Trước khi Ngài mất có chấp tay nói kệ rằng:

Nhứt niệm viên quang tội tánh không.

Đẳng đồng pháp giới hàm thanh tịnh.

Khi Ngài mất ánh hào quang tỏa sáng rực một góc chùa Phi Lai, dân địa phương tưởng chùa cháy chạy đến chùa cứu lửa thì mới hay là Ngài vừa mất.

V. Nhận định

          Đức pháp sư Phổ Huệ ở chùa Tịnh Lâm, Bình Định, đến ở chùa Phi Lai hơn tháng, để thụ trì kinh Hoa Nghiêm, được biết tung tích Ngài rồi nói: ‘Hòa thượng Phi Lai thật là người hay chữ, nhưng vì hoàn cảnh mà phải dấu thân, nên có đưa ra bài thơ, câu đối gì Hòa thượng nói dối rằng ‘nằm chiêm bao...hoặc tiên xuống cho’’.                                                         

Xin chép vài bài thơ mà người ta tặng cho:

Đương thế Phi Lai chấn đạo tôn,                 

Chí Thành khí sắc cổ phong tồn,                    

Phong lưu bất tấy tâm thường tịnh

Diệu nghĩa năng tham tự tánh dung

Vân khứ vân lai vô trú trước

Hoa khai hoa tạ tổng thành không

Phong quan hảo cực tư thời tặng

Sa nhược linh san lạc bất dung!"

Chùa Tịnh Lâm, tỉnh Bình Định

Pháp Sư Phổ Huệ tặng.

                                                             

Phi kinh trượng cước xả phàm thân

Y bát tương truyền bổn tánh chân

Đại đức quảng khai thanh tịnh lộ

Chí Thành phồ hóa hải sơn nhân

Kim thân tố hội liên hoa tọa

Ngọc điện huy hoàng động vũ tân

Công đức khả gia xưng Bồ tát

Thanh san bất lão biến từ vân

Ngự Khuê, tỉnh Vĩnh Long

Tống tịnh trai tặng.


Vứt áo bao xanh đến cửa không

Tu trì một niệm mấy thu đông

Sáu mươi tuổi trời cho thọ

Bốn chục năm dư Phật biết lòng

Đỉnh đức cao xây non Bà Khét

Nguồn ân xa chảy nước Gò Công

Chấp tay chúc chữ vô cương thọ

Khua tỉnh hồn mê khách bụi hồng

Tác giả cuốn "Ngọn đuốc cửa thiền"           

Có một vị tăng là đệ tử của Ngài sau học với pháp sư Bảo Chung ở Sa đéc thốt lời rằng:’ Cụ Chí Thiền đây đúng là một vị minh sư, tôi bấy lâu bị lầm lạc, nay mới thấy để theo học thì đã muộn’, Còn bên ni có sư Diệu Kim hầu thầy mấy chục năm mãi tin rằng thầy mình không biết chữ.

Sau cái chết đầy oan khuất của ông nội, tướng quân Nguyễn Văn Thành, gia đình ly tán không dám khai tên thật để tránh sự truy đuổi của kẻ thù. Vua Tự Đức vừa minh oan cho Tiền quân Thành nên trọng dụng con cháu của Đức Tiền Quân (Tổng trấn Bắc Thành) ra làm quan. Hưởng lộc vua không được bao lâu, nhưng với trách nhiệm của người con khi vận nước lâm nguy, Ngài từ bỏ chức tước, tham gia khởi nghĩa và gia đình Ngài lại một lần nữa ly tán.

Ngài vào Nam mà trong lòng ngổn ngang trăm bề. Là một đấng trượng phu trông rộng nhìn xa, vừa là dòng dõi nhà quan và do nhận rõ được thực trạng lúc bấy giờ, nên Ngài đã vạch ra cho mình một lối đi rất riêng. Ẩn mình dưới bóng một vị chân tu, Ngài xông pha giữa cuộc đời nào kém thua ai, lý luận không nhiều mà ông làm thì thật nhiều điều hữu ích. Có thể nói rằng cuộc đời Ngài là cuộc đời của một bậc đại ẩn, Ngài hay chữ, giỏi võ, thực chứng giáo lý Phật, nhiều tâm huyết và chí lớn nhưng có mấy ai hiểu hết Pháp tu cũng như cuộc đời của Ngài.

Tổ Phi lai Nguyễn Văn Hiển là một nhân vật tiêu biểu cho thế hệ danh Tăng ở miền Tây Nam Bộ nửa đầu thập kỉ hai mươi, có ảnh hưởng rất nhiều tầng lớp tăng ni thời bấy giờ. Ngài là một người rất thao lược, khéo sắp sếp mọi việc vì vào thời đó chùa Phi lai không giống như một ngôi chùa như hiện nay, nó giữ vai trò nâng đỡ tinh thần dân chúng, tạo ra một nguồn thu vể kinh tế cho dân địa phương cho dân mướn ruộng với giá rẻ hơn.

Ngài xây dựng ngôi chùa trên nền tảng tự cường về tài chính không phụ thuộc nhiều vào việc cúng dường, tạo thêm của cải cho xã hội mà phải không trái Đạo, nhờ vậy mà việc tu của Ngài ít gặp trở ngại, ít bị mất lực, hiệu quả cao. Ngôi chùa là một cơ quan cứu giúp mọi người trong lúc khốn khó, lúc bị thiên tai, cũng là một thành lũy kiên cố chống lại những điều không tốt, nạn cướp bóc ít khi xảy ra trong vùng Ngài sống khi Ngài còn tại thế.

Một đặc trưng nữa là Ngài tự tu tự chứng tùy theo căn cơ của mình mà chọn pháp tu tương ứng không cho kinh sách là thật, không cần phải theo thứ tự lớp lang, không cho mình là người có học vị cao thì hiểu biết nhiều vị trí lớn. Đối với Ngài quan hệ thầy trò chỉ có ý nghĩa tương đối, lạy chính mình để  nhận mình là thầy, pháp tu phối hợp các yếu tố Khổng, Lão, Thiền, Mật, Tịnh. Cũng như vậy khi Ngài thâu nhận đệ tử tùy theo sự trí huệ của người đó mà Ngài dẩn lối tu học và sắp sếp nơi chốn học tập.

Phật tổ đã không ngăn cản việc tận diệt họ Thích thì Ngài cũng không ngăn việc đốt chùa, giết tăng ở chùa Phi Lai, biết trước rằng phải diệt  Phi Lai hình tướng để phân phát hạt giống Phi Lai khắp nơi, bảo vệ chánh pháp. Ngài lo rằng phần tử xấu sẽ chiếm chùa để làm đạo, nương theo đạo nói mình hành đạo mà phá đạo. Trước làng sóng Đạo Thiên Chúa được chính quyền Pháp ủng hộ sẽ uy hiếp rất lớn lên đạo Phật nên ngài xuống thế tu tập rồi đào tạo ra những vị sư cự phách để duy trì mạch sống cho chánh pháp của Như Lai. Ngài là người thuộc tầng lớp trên của xã hội, nay cơ trời thay đổi ông đã chỉ ra một con đường cho tầng lớp này nên đi "nương theo tôn giáo để giữ nguyên khí của quốc gia, nương theo tôn giáo để làm chính trị, nương theo tôn giáo để chống lại tôn giáo". Có thể nói ngày hòa thượng Phi Lai sinh ra là ngày Tâm sinh vạn Pháp, ngày hòa thượng Phi Lai an nhiên thâu thần thị tịch (hình tướng lẫn phi hình tướng) là ngày vạn Pháp quy Tâm

Long An-2013