LỜI GIỚI THIỆU

Website  honguyenquancong.com là kênh thông tin chính thức của dòng họ

Nguyễn Huế - Gia Định, là diễn đàn trao đổi giữa các chi họ Nguyễn trong

và ngoài nước. Ban quản trị Website mong muốn nhận được bài viết, hình

ảnh về các hoạt động của các chi họ để trang Web thêm phong phú, đa dạng.

Mọi thông tin xin gửi về địa chỉ Email: honguyenquancong@gmail.com hoặc

duyhung12258@gmail.com. 

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM: QUẬN CÔNG NGUYỄN VĂN THÀNH - DIỄN CA SỬ VIỆT

Nguyễn Duy Hưng - Hậu duệ đời thứ Sáu của Tổng trấn Bắc Thành

Trân trọng giới thiệu với Quý vị Tác phẫm Diễn ca Sử Việt của Nguyễn Duy Hưng, Hâu duệ đời thứ sáu của Quận công - Chưởng Trung quân Nguyễn Văn Thành được viết dưới dạng thơ 6/8. Tác giả xin giới thiệu 326 câu thơ, được biên tập thành 12 chương: Chương mở đầu, tiếp theo là 11 chương từ chương 1, chương 2 ....đến chương 11 là chương kết thúc.

DIỄN CA SỬ VIỆT: TỔNG TRẤN BẮC THÀNH NGUYỄN VĂN THÀNH (1758-1817)(1)

Chấp bút: Người nghiên cứu lịch sử - Nguyễn Duy Hưng,

*****

Sao Khuê lấp lánh trên trời,

Hào quang tỏa sáng rạng ngời trong con.

Phò Vua bình định giang sơn;

Giúp dân cuộc sống bình an muôn đời,

Tấm lòng Trung – Nghĩa sáng ngời

Văn tài - Võ lược sử còn lưu danh.

Tên Ngài là Nguyễn Văn Thành;

Quận công-Tổng trấn Bắc Thành Việt Nam(2)

Chú thích:

(1): Sử thần Quốc sử quán triều Nguyễn đã đánh giá như sau: “Thành có văn võ tài lược, lâm trận dụng binh mưu lược rồi mới đánh cho nên ít khi thua, lúc đầu trung hưng, công ấy tốt lắm. Đến lúc Bắc Hà đã định, một mình đương công việc Tổng trấn không động đến lời nói, nét mặt, mà trộm giặc đều yên, bày mưu chốn miếu đường, bày tâu sự nghi đều được thi hành, có thể gọi là người có mưu giỏi trị nước”.

Sách Đại Nam liệt truyện nhận xét: “… Thành biết chữ, hiểu nghĩa sách, biết đại thể, ở trong số chư tướng Vua trọng Thành hơn cả, không cứ việc lớn, việc nhỏ đều hỏi để quyết đoán…”.

Quận công Nguyễn Văn Thành: “Trời ban cho Ngài có tính tình trầm nghị, dáng mạo khôi ngô. Ngài là người đã ham đọc sách, giỏi võ nghệ”; “Thời Trung Hưng được tôn là công thần bậc nhất”. Ngài làm quan đến chức “Vọng các công thần, Khâm sai Chưởng Trung quân, Đô thống phủ, Đô thống chưởng phủ sự, Tổng trấn Bắc Thành, Bình Tây đại tướng quân, Tả trụ quốc thụy vũ nghị Quận Công, Tổng tài Quốc sử quán Triều Nguyễn”.

 (2): Trong Quốc sử di biên của Phan Thúc Trực ghi: "Năm Nhâm Tuất 1802, vua Gia Long nghĩ Bắc Hà mới bình định, dân vật đổi mới, cố đô Thăng Long lại là trung tâm của Bắc thành với nghìn năm văn hiến, là nơi đã từng chứng kiến bao cuộc thăng trầm của lịch sử dân tộc, nên được trọng thần để trấn thủ bèn phong cho Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc thành; Ban cho sắc ấn trong ngoài 11 trấn đều thuộc về ông kiêm quản. Các việc truất nhắc quan lại, xử quyết việc án, đều được tiện nghi làm việc, sau mấy năm mà đất Bắc Hà được yên trị".

Chương 1:

GIA THẾ NGÀI TỔNG TRẤN

*****

Xứng danh Nguyễn tộc rạng ngời;

Quê làng Bác Vọng - Quảng Điền – Thừa Thiên(3)

Phụ Thân là Nguyễn Văn Hiền

Tráng võ phụ quốc, Tướng quân - lẫy lừng;

Giúp Vua đánh giặc, công thành

Tam Sơn ngộ nạn chẳng may qua đời.

Tài cao giúp ích cho đời

Chức “Tiền Minh nghĩa”, tước thời vua ban(4).

***

Mẫu thân đôn hậu đoan trang

Dòng dõi quyền quý cao sang “Họ Trần”(5)

Quan tâm công việc gia đình

Chăm lo sức khỏe Phu quân hàng ngày

Phúc đức dòng họ cao dày

Trời ban sinh hạ “bé trai Văn Thành”

Cằm vuông trán rộng, mũi thanh

Tai to, mắt sáng, lông mày cánh cung…

Chú thích (chương 1):

Căn cứ Gia phả dòng Họ Nguyễn Quận Công

(3): Nguyễn Văn Thành Sinh ngày 13/11 AL năm Mậu Dần, mất ngày 11/5 âm lịch năm Đinh Sửu. Quê hương: Thôn Giáp Tây, xã Bác Vọng, Tổng Hạ Lang, huyện Quảng Điền- Thừa Thiên – Huế.

(4): Phụ thân là Nguyễn Văn Hiền, làm quan đến chức Tiền minh nghĩa công thần, đặc tấn phong “Tráng vệ phụ quốc Thượng tướng quân–Cẩm y vệ - Chưởng vệ sử - Chưởng dinh Hiền đức hầu”.

(5): Mẫu thân là Trần Thị Đàn (1720-1809); Quê làng Bình Long, tổng Tân Phong, huyện Tân Phong, phủ Tân Bình, Trấn Phiên An - Gia Định. Cố Bà con nhà dòng dõi, quyền quý, trâm anh;

Chương 2:

THỜI NIÊN THIẾU

*****

Cha bận công việc nhà binh

Mẹ lo cơm áo, dạy con Minh – Tường:

Dạy con đạo đức làm gương;

Dạy con Lễ - Nghĩa, Nhu – Cương hài hòa;

Dạy con hiếu kính mẹ, cha,

Không ham phú quý, không màng công danh;

Giữ gìn chữ Tín tất thành

Thầy rèn võ nghệ, Cha truyền binh thư.

***

Trải qua khổ luyện cam go;

Các ban võ nghệ(6) Văn Thành vượt qua;

Bắn Cung, múa Kiếm, xông pha

Học Côn, luyện Kích, Bồ cào, Xà mâu;

Đập Chùy, vung Búa, Song câu;

Luyện cùng Thiết bảng, Nhuyễn tiên, Bút thần…

Nắng, mưa, sương, gió chuyên cần;

Chinh phục giá rét võ thần vượt nhanh.

***

Phát huy trí tuệ cha, anh;

Muốn thắng giặc dữ phải tường dụng binh(7);

Thấu hiểu nghệ thuật chiến tranh,

Không đánh mà thắng uy danh muôn đời.

“Hiểu ta, hiểu rõ được người”

Chọn nơi “Hiểm yếu”, “chọn người cầm binh”.

Lập “Kế sách”, luyện “Nghi binh

Thông tường “địa lý-địa hình-phục quân”.

***

Phép binh “Cửu biến” tinh thông;

Khi dùng “Gián điệp”, khi công phá thành.

Khi hư, khi thực “Quân tranh”

Khi dụng “Binh thế”, khi dùng “Hỏa công”

Đóng quân chọn đất tựa sơn

Nơi nhiều gò đống, tiện đường tiến lui…

Biết kiềm chế, biết đợi thời

Giảm thiểu xương máu bảo tồn ba quân.

Chú thích (Chương 2):

(6): Dưới đây là danh sách 18 ban võ nghệ trong võ cổ truyền:

1.Côn: Một loại gậy dài, được sử dụng để tấn công và phòng thủ; 2.Đao: Một loại vũ khí lưỡi cong, sử dụng để chém và chặt; 3.Thương: Một loại vũ khí dài, có mũi nhọn, dùng để đâm; 4.Kiếm: Một loại vũ khí có lưỡi thẳng, dùng để đâm và chém; 5.Giáo: Một loại vũ khí cán dài hơn thương có lưỡi hình mũi mác; 6.Xà mâu: Một loại vũ khí cán dài, có đầu móc nhọn, dùng để đâm và móc; 7.Kích: Một loại vũ khí dài, có đầu nhọn,có lưỡi phụ, dùng để đâm và chém; 8.Bồ cào: Một loại vũ khí có nhiều răng, dùng để cào và móc; 9.Thiết bản: Một loại vũ khí dạng bản,(dao hoặc kiếm ngắn); 10.Song tô: Hai loại vũ khí ngắn dao hoặc kiếm, sử dụng cùng lúc;11.Song xỉ: Hai loại vũ khí giống như đinh ba, dùng để đâm và móc; 12.Song câu: Hai loại vũ khí có móc, dùng để móc và kéo; 13.Bút: Một loại vũ khí có đầu nhọn, có thể là dao hoặc kiếm ngắn; 14.Búa (phủ): Một loại vũ khí nặng, có đầu búa, dùng để đánh; 15.Chùy: Một loại vũ khí có đầu tròn, dùng để đánh; 16.Cung tên: Một loại vũ khí tầm xa, dùng để bắn tên; 17.Lăn khiên: Một loại vũ khí phòng thủ, kết hợp giữa khiên và vũ khí; 18. Nhuyễn tiên(Dây xích): Một loại vũ khí mềm, có thể quấn và tấn công đối thủ.

(7): Binh pháp Tôn Tử: chiến lược thắng lợi trọn vẹn là không cần đánh mà khuất phục được kẻ địch. Quan điểm thận trọng đối với chiến tranh (thận chiến) và hạn chế chiến tranh, quan điểm đánh bằng thủ đoạn ngoại giao (phạt giao) chú trọng liên minh chiến lược, càng chứng tỏ giá trị quý báu trong xu thế hoà bình và phát triển hiện nay. Tôn Tử còn dạy luôn phải chiếm đóng chỗ hiểm yếu, dễ làm chủ địa hình. Hạ trại nên ở nơi cao ráo tránh ẩm thấp, ở nơi sáng tránh chỗ tối tăm, ở nơi gần nước có đường vận chuyển quân nhu, tướng sĩ không bị nhiễm bệnh. Hành quân ở vùng nhiều gò đống, đê điều nên chọn nơi cao ráo sáng sủa. Cái lợi của cách dùng binh này là được lợi thế địa hình hỗ trợ. Phần thượng lưu mưa lớn tất nước sông sẽ dâng lên, nhất định không được vượt sông, phải chờ khi nước rút. Hành quân qua vùng khe suối hiểm trở, nơi vách núi cao vây bọc, nơi 3 mặt bị vây vào dễ ra khó, nơi đất thấp lầy lội khó vận động, nơi hẻm núi khe hở. Khi gặp năm loại địa hình đó tất phải gấp rút chuyển đi, không nên đến gần. Hành quân qua những nơi mà hai bên sườn có nhiều chỗ hiểm trở, ao hồ đầm lầy, lau sậy um tùm, cây cối rậm rạp tất phải thận trọng vì đó là những nơi địch dễ có thể mai phục

Binh pháp Tôn Tử gồm 18 thiên, hiện tại chỉ tìm thấy 13 thiên gồm:

Thiên thứ nhất: Kế sách (始計,始)

Thiên thứ hai: Tác chiến (作戰,作)

Thiên thứ ba: Mưu công (謀攻,谋攻)

Thiên thứ tư: Quân hình (軍形,军形)

Thiên thứ năm: Binh Thế (兵勢,兵)

Thiên thứ sáu: Hư thực (虛實,虚)

Thiên thứ bảy: Quân tranh (軍爭,军争)

Thiên thứ tám: Cửu biến (九變,九)

Thiên thứ chín: Hành quân (行軍,行)

Thiên thứ mười: Địa hình (地形)

Thiên thứ mười một: Cửu địa (九地)

Thiên thứ mười hai: Hỏa công (火攻)

Thiên thứ mười ba: Dùng gián điệp (用間,用)

Chương 3:

VÕ CÔNG QUÂN SỰ

*****

Thời trẻ hăng hái lập công

Theo cha chinh chiến Phú Yên trận đầu;

Xông pha gió bão đêm thâu,

Tên reo đầu ngựa, mặt thành giáo đan.

Vượt bao nguy hiểm, gian nan;

Công thành, trảm tướng lập nhiều công to.

Tam Sơn chiến địa cam go,

Giặc vây đánh úp Phụ thân qua đời.

***

Hai mươi tuổi phò Chúa Nguyễn(8);

Mang tài năng thi thố trước ba quân;

Đánh Bình Thuận, phá Quy Nhơn

Chiếm thành Diên Khánh, Phú Xuân thu về.

Trận Thị Nại đốt thuyền bè;

Chế tạo thuốc nổ, chôn ngầm địa lôi

Nhử địch vào bẫy sẵn rồi

Địa lôi dậy đất Kỳ Sơn, Lang Viền;

***

Năm Tân Dậu (1801) sắc Vua ban:

Tiền quân Đô thống, Quận công dẫn đầu(9);

Tiết chế các đạo binh quyền.

Đánh Đông dẹp Bắc, chặn đường vận lương…

Chiếm Thanh Hóa, đánh Nghệ An.

Quân ta thừa thế, tiến quân Bắc Hà.

Giang sơn một mối thu về;

Nguyễn Vương xưng đế hiệu là Gia Long(10).

***

Tế lễ trống dục, cờ giong

Đại xá thiên hạ, khải hoàn ba quân;

Quốc hiệu tên nước Việt Nam(11)

Độc lập - Tự chủ nối liền non sông

Định đô Thành Huế - Phú Xuân;

Sắp đặt hành chính, sắc phong quan trường;

Bắc Thành trọng yếu cột giường;

Quận Thành Tổng trấn - Vua bèn sắc phong(12).

 

Chú thích (Chương 3)

Trích Quốc sử di biên của Phan Thúc Trực

(8): Năm Mậu Tuất - 1778: Phụ thân Nguyễn Văn Hiền qua đời, Nguyễn Phúc Ánh triệu ông về;

(9): Năm Tân Dậu 1801, ông được phong Quận Công, lãnh ấn Khâm Sai Chưởng Tiền Quân, Bình Tây Đại tướng Quân, Điều bát chư đạo bộ binh.

(10): Ngày 02 tháng 05 năm 1802 tại Phú Xuân, Nguyễn Phúc Ánh xưng đế lấy niên hiệu là Gia Long;

(11): Tháng 2 năm Giáp Tý 1804, Vua Gia Long ban chiếu đổi quốc hiệu thành Việt Nam, lấy Huế làm kinh đô nước Việt Nam. Đây là sự kiện lịch sử quan trọng, chính thức đặt tên cho quốc gia thống nhất đầu tiên của nhà Nguyễn.

(12): Năm Nhâm Tuất 1802, vua Gia Long phong cho ông làm Tổng trấn Bắc thành.

 Chương 4

TỔNG TRẤN BẮC THÀNH: BƯỚC ĐẦU N ĐỊNH BC THÀNH

***** 

Khi đầu công vic gian nan.

Giúp dân phiêu tán bình an tr về;

Khuyến dân phát trin làng nghề;

Khai hoang cy cy, dy ngh mưu sinh.

Nước nhà chinh chiến bao năm

Dân tình đói kh trăm b xót thương;

Ngài chia rung cho dân thường

Thc hành ct gim thuế thân, thuế vườn.

***

 Sông Gianh ngăn cách hai miền

Phong tục, tập quán: Đàng ngoài, Đàng trong;

Tân Triều bình định non sông;

Khó khăn đo đạc, cân đong hai miền!

Ngài cho đúc thước đạc điền(13),

Thước Kinh(13) đo ruộng, kiểm hàng bán mua;

Dùng trong trao đổi lúa, ngô;

Có giạ, có hộc, có thăng(13) minh tường(14).

***

Cm thương binh lính sa trường

Xa cha, m xa quê hương đói nghèo

Đầu gươm, mũi mác, tên reo;

K thì mất tích, người thì tử thương

Đăng đàn tế lễ chiêu hồn

Mc áo cánh hc, tay dâng hương trm;

Nâng chén rượu, đón Linh thn

Ngài dâng Văn tế”(15) giãi by tiếc thương.

***

Li văn thng thiết, thê lương;

Ngi ca công trng anh hùng đã qua:

Vì dân vì nước xông pha

Trải bao gian khổ, hiểm nguy chiến trường

Chặt cây, phá đá, mở đường

Vượt sông, lội suối bắc cầu quân đi

Xông lên trảm tướng, giật kỳ;

Da ngựa bọc xác, xương phơi trắng đồng…

***

Giọng Người cảm động vô cùng:

Quanh đài gió rít, mịt mùng khói bay,

Voi gầm, ngựa hí, tên bay…

Linh hồn tráng sĩ mơ hồ khóc than…

Tế lễ vừa dứt, trời quang;

Mây mù tan biến không gian lặng tờ

Đức Ngài như tỉnh cơn mơ

Hóa giải nghiệp chướng cho người chết oan…

***

Trải qua biến cố thời gian

Kỷ cương đảo lộn, tham quan lộng hành

Nhận hối lộ, hiếp dân lành…

Dịch bệnh, trộm cướp, dân tình điêu linh

Thiên tai lũ lụt hoành hành

Người dân đói khổ, xót thương trăm bề…

Đức Ngài khẩn tấu Triều đình;

Cấp tiền, gạo, thuốc cứu dân đói nghèo.(16)

***

Chú thích (Chương 4)

 (13) Năm Giáp Tý 1804, Nguyễn Văn Thành đã thống nhất đồ cân đong (làm ra dụng cụ: giạ, đấu, thăng, hộc để đong lúa gạo…) để đảm bảo công bằng, chống gian lận, thúc đẩy thương mại nội địa, và củng cố quyền lực Bắc Thành, vì trước đó tồn tại nhiều hệ đo lường khác nhau, gây khó khăn cho việc thu thuế, quản lý kinh tế và gây thiệt hại cho người dân, làm suy yếu kỷ cương phép nước. Đồng thời cho đúc thước đạc điển được dùng từ Quảng Bình trở vào Nam và thước Kinh được dùng từ Nghệ An trở ra Bắc. 

(14) Minh tường: chỉ sự công khai, công bằng, rõ ràng.

(15) “Văn tế tướng sĩ trận vong” - Tháng chạp năm 1802, tại Thuận Hóa, Nguyễn Văn Thành đứng chủ tế trong lễ truy điệu các tướng sĩ bỏ mình trong cuộc chiến. Ông đã soạn bài Văn tế tướng sĩ trận vong, lúc tế ông đọc bài văn này, lấy cái cảm tình của một ông võ tướng mà giãi bày công trạng anh hùng của kẻ đã qua, thổ lộ tấm lòng thương tiếc của người còn lại, lời văn thống thiết, giọng văn hùng hồn, đây thật là một áng văn chương tuyệt bút của nền văn học Việt Nam. Sách còn chép rằng: "khi Tiền quân Nguyễn Văn Thành đọc bài văn tế, chung quanh đài lễ mây mù khói nổi, vang vọng tiếng gươm đao chát chúa và tiếng ngựa hí cuồng. Trên không trung, từng luồng gió rít ngang, nghe mơ hồ tiếng than vãn nhớ thương lẫn tiếng chân người rầm rập đi qua. Khi bài văn tế kết thúc, trời quang, mây mù tan hết, cảnh vật chung quanh trở nên tĩnh lặng như cũ. Năm 1918 học giả Phạm Quỳnh đã có bài viết “Bài văn tế của Quận công Nguyễn Văn Thành thật là một áng văn chương tuyệt bút trong quốc âm ta. Lối văn tế Nôm xưa nay cũng nhiều mà phần nhiều là những lời than giùm khóc mướn. Chưa từng thấy bài nào hay bằng bài này. Hay vì lời văn trác luyện, hay vì cái khí anh hùng, hay vì ý tứ thâm trầm, hay vì cảm tình chan chứa trong toàn thiên. Hay vì lời lời đáng ghi vào vàng đá, truyền đến muôn đời; khi gióng giả như nhịp trống trong quân, khi tơi bời như ngọn cờ dưới nguyệt, khi “mịt mù như cơn gió lốc thổi dấu kẻ tha hương”, khi “lập lòe như đám lửa trơi, soi chừng chốn cổ độ”, khi hùng tráng như tiếng gươm tuốt trong trận, khi lâm ly như tiếng vượn khóc trên ngàn. Hay vì khí phách anh hùng của mấy trăm vạn con em đất Việt Nam đã cùng Đức Thế Tổ Cao Hoàng đế trong hai mươi năm gian nan lao khổ, nhưng thật vẻ vang.  Hay vì ý tứ thâm trầm, muốn biểu dương công nghiệp của kẻ quân nhân đã giúp Bản triều gây dựng nên cơ đồ vĩ đại, người sống đã hết phận truy tùy, “chung nỗi ân ưu mà riêng phần lao khổ”, kẻ chết cũng còn hộ được “Hoàng triều cho bể lặng sóng trong”. Hay vì cảm tình: cảm tình một võ tướng thương nhớ kẻ tì hưu đã cùng mình khi uống “chén rượu đầu ghềnh”, khi vung “tấm cừu trước gió”, mà nay gặp hội thăng bình, xót vì nỗi người còn mà kẻ khuất! Thương xót ngậm ngùi mà chạnh nghĩ đến “cha già, mẹ yếu, vợ góa, con côi” của những kẻ chẳng may đã khuất đi, muốn an tập mà bảo toàn cho khắp đủ. Ấy cái tình một ông đại tướng đối với kẻ quân nhân thiết tha mà chu đáo như thế. Tưởng tượng bài này đọc trước mặt ba quân, trong “đám cờ đào, nón đỏ”, không còn cảnh tượng gì hùng tráng mà cảm động bằng: người nghe tất ai cũng nức nở trong lòng mà chứa chan giọt lệ vậy.

(16) Sách Đại Nam thực lục ghi lại một sự kiện vào mùa Xuân, tháng Giêng năm Canh Ngọ (1810): “Dân Bắc Thành bị đói, trước là trấn Kinh Bắc, Hải Dương, Yên Quảng, Sơn Nam hạ bị lũ lụt, thành thần đem việc thiên tai báo lên. Ngài sai hoãn việc đòi lính, nghỉ hỏi kiện vặt, bãi các công dịch, sai thành thần bàn kỹ chính sách cứu đói. Nguyễn Văn Thành dâng sớ về Kinh đô: “Nước lấy dân làm gốc, dân lấy ăn làm đầu”. Sau khi các trấn bị thiên tai, nhân dân ngày càng đói lắm. Xin Bệ hạ bàn cách phát chẩn và cho vay, để đỡ túng ngặt cho dân. Vua đều theo lời, sai phát thóc kho ra 30.000 hộc, cử bọn Trương Tấn Bửu, Phạm Như Đăng, Nguyễn Đình Đức chia đi các nơi chẩn cấp…”.

Sau mấy chục năm chiến tranh liên miên, vùng đất Bắc thành rơi vào tình trạng: “… quyền cương đảo lộn, chính trị trễ tràng, bọn hào hữu vũ đoán trong làng xóm, dân phong ngày thêm điêu bạc, kiện tụng rối bời, trộm cướp tứ tung… chính trị phong tục ngày càng thối nát…”.

Tác phẩm: “VĂN TẾ TƯỚNG SĨ TRẬN VỌNG” sẽ được đăng vào phần ghi chú cuối tuyển tập

 

Chương 5:

TỔNG TRẤN BẮC THÀNH: XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH VĂN HÓA VÀCHẤN HƯNG GIÁO DỤC BẮC THÀNH.

*****

“Lấy dân làm gốc” thấm nhuần

Mở Trường, đặt Chợ(17), giúp dân, giúp đời

Kỳ đài (18) sừng sững giữa trời

Chủ quyền lãnh thổ rạng ngời núi sông;

Xây thành kiến trúc Vauban(19)

Công trình phòng thủ non sông vững bền

Giáo dục con cháu Vua Hùng:

“Sao Khuê chiếu sáng” –“ Đạo Nho muôn đời”(20)

***

Thăng Long văn hiến ngàn đời;

Kinh đô tỏa sáng rạng ngời phồn vinh;

Người tài nghi ngại ẩn danh,

Để tránh ghen ghét, phân vân đợi thời;

Kiếm, tìm trân trọng người hiền;

Kính tôn nho sĩ, vinh danh đại thần.

Mến mộ tài đức văn nhân,

Đức Ngài trọng dụng Sĩ phu Bắc Hà.

***

 Nhân tài - nguyên khí quốc gia;

Đào tạo người tài cần chuẩn học quy.

“Tinh hoa Văn hiến” khắc, in(21)

Giáo dục đổi mới(22)nội dung, chương trình;

Giảm lý thuyết, tăng thực hành;

Bỏ dạy nhàm chán, sáo mòn, phô trương;

Tìm kiếm bồi dưỡng tài năng

Cấp tiền cấp gạo cho người hạng ưu;

***

Chương trình giáo dục phân hai

Trường Tư bên ngoài đua với Trường công;

Mở trường vùng núi khó khăn;

Cân bằng chất lượng miền trong miền ngoài.

Dạy trò đạo đức làm người

Hiểu sâu lý thuyết, giỏi giang thực hành;

Soạn sách Sử - Địa – Thiên văn,

Chọn người tài giỏi sung vào chức quan.

 

Chú thích (Chương 5):

(17) + (18): Mùa hạ năm Giáp Tý, 1804, Quận công Thành đứng ra trông coi việc xây dựng lại thành Thăng Long. Công trình này hoàn tất vào mùa thu năm Ất Sửu 1805. Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, ghi:

"Đến khi Hoàng triều trung hưng thống nhất Nam Bắc, định đô ở Phú Xuân, coi Thăng Long là trấn lớn của phương Bắc, đặt lỵ sở của Tổng trấn ở đây. Vua ban chiếu chỉ cho xây dựng lại thành. Thành này có diện tích hơn 60 ha, chia làm năm cửa, trong thành dựng hoàng cung để phòng khi nhà vua đến thăm. Nhà vua ban tên là thành Thăng Long. Hiện nay, cổ tích của nội thành chỉ còn điện Kính Thiên và một cửa (Cửa Bắc) của năm cửa khuyết trước điện này mà thôi".

Sách Quốc sử di biên mà Phan Thúc Trực - một sử gia ở thời Nguyễn đã miêu tả trong tác phẩm của mình : “Phía trong thành Thăng Long làm Hoàng thành, lấy cửa Đoan môn, điện Kính Thiên làm chuẩn đích. Ở phía trước thành Thăng Long, dựng một cột cờ được gọi là “kỳ đài” cao 100 thước. Thành ngoài được mở bảy cửa. Ở trên mỗi cửa có một cái lầu, và các lầu đều có cột đồng. Chung quanh thành dẫn nước sông Tô Lịch làm hào. Trên hào ghép gạch nung chín làm cầu. Nền thành rộng 7 trượng. Ở phía trong thành chia làm 5 bản. Trên thành xây nữ tường. Có lỗ đặt súng”. Việc sắp xếp các cơ quan trong thành không được tác giả chú ý nhiều, chỉ vắn tắt vài dòng : “ Những dinh vệ đều được kiến thiết dọc ngang trong thành trông như hình bàn cờ vậy”. Đồ án tổng thể của công trình được tác giả nhận xét : “Thành Thăng Long được xây đắp quanh co khuất khúc như hình bông hoa Hồi hương”.

 (19): Kiến trúc thành Thăng Long: Thành Thăng Long được xây dựng theo Kiến trúc Vauban. Trong tiếng Pháp, Vauban là tên riêng của Sébastien Le Prestre de Vauban, một kiến trúc sư quân sự và kỹ sư pháo đài lỗi lạc người Pháp sống vào thế kỷ 17-18. Cái tên này còn dùng để chỉ "phong cách kiến trúc Vauban".

(20): “Sao Khuê chiếu sáng” –“ Đạo Nho muôn đời” trích trong 2 vế đối treo mặt trước của Khuê Văn Các. Tháng 6 năm Ất Sửu 1805, Quận Công Nguyễn Văn Thành tu bổ Văn Miếu Quốc tử giám và cho xây dựng Khuê Văn các. Khuê Văn các có kiến trúc độc đáo về khía cạnh văn hóa và mỹ thuật. Công việc được hoàn thành vào mùa thu năm 1805. Kiến trúc được đặt ở cửa Nghi Môn và chính tại đây hằng năm vào mùa Xuân và mùa Thu, chọn hai ngày Đinh lệnh cho quan đến tế, lại lấy bốn tháng giữa Xuân, Hạ,Thu, Đông tổ chức khảo thí học trò. Trên 4 mặt của Khuê Văn các đều treo 4 đôi câu đối. Nội dung của Câu đối chính diện là:          và    

Phiên âm:

Khuê tinh thiên lãng nhân văn xiển

Bích thủy xuân thâm đạo mạch trường.

Dịch nghĩa:

Sao Khuê chiếu sáng giữa trời, văn chương của người ta đươc rạng tỏ.

Trường Thái học đượm sắc xuân, mạch của đạo Nho tồn tại muôn đời.

 (21) Tháng 12 năm Đinh Mão 1807, Nguyễn văn Thành cho khắc in sách “Đại học diễn nghĩa” là tác phẩm được xem trọng như “Tinh hoa Văn hiến”. Đây là hoạt động văn hóa - giáo dục quan trọng dưới triều vua Gia Long, nhằm lan tỏa tư tưởng Nho giáo, thể hiện sự quan tâm đến việc học hành và trau dồi đạo đức của vị Tổng trấn Bắc Thành thời kỳ đầu nhà Nguyễn

Tác phẩm: Đại học diễn nghĩa là bộ sách diễn giải về sách Đại học (một trong Tứ Thư của Nho giáo), nhấn mạnh vào việc tu thân, trị quốc. Việc khắc in sách thời kỳ này thể hiện nỗ lực của Nguyễn Văn Thành trong việc đề cao đạo học, khích lệ tinh thần khoa cử và xây dựng nền văn hiến.

Sự kiện này đánh dấu sự phát triển của công tác xuất bản tài liệu giáo dục và nho học trong giai đoạn đầu triều Nguyễn.

(22) PGS.TS Vũ Văn Quân - Khoa Lịch sử, ĐHKHXH&NV viết trong bài nghiên cứu: “Vài nét về hệ thống giáo dục và khoa cử Việt Nam ở Bắc Thành – Triều Nguyễn”

Đổi mới giáo dục thời kỳ đầu Triều Nguyễn được các sử gia mô tả: tập trung vào việc chuẩn hóa hệ thống khoa cử theo mô hình Nho giáo, khuyến khích phát triển giáo dục ở Nam Bộ và vùng dân tộc thiểu số, đồng thời xây dựng một nền giáo dục "thực học, thực tài" thông qua các biện pháp như điều chỉnh quy chế thi cử, tăng số lượng người đỗ đạt và bổ sung nhân sự địa phương vào bộ máy chính quyền.

a. Mô hình giáo dục: Triều Nguyễn xây dựng mô hình giáo dục theo Nho giáo, phỏng theo Trung Hoa, với chương trình học tập phân thành hai: tiểu học và đại học.

b. Chương trình và thi cử:

Chương trình giáo dục chia 2 giai đoạn: Chương trình Tiểu học cơ bản và Chương trình giáo dục để phụng sự quốc gia.

Học trò học Tứ Thư, Ngũ Kinh và trải qua các kỳ thi Hương, Hội, Đình để tuyển chọn quan lại.

c. Quy mô:

Triều đình thành lập các cơ sở giáo dục công như Quốc Tử Giám ở Thăng Long.

Khuyến khích mở các trường tư ở các trấn, phủ, làng, xã…

Phát triển giáo dục ở Nam Bộ để hòa nhập vùng đất mới này vào nền chính trị xã hội chung của đất nước và đáp ứng nhu cầu nhân sự cho bộ máy chính quyền địa phương.

Ưu đãi cho sĩ tử: Cấp lương thực cho cử nhân và học sinh xếp loại ưu.

Điều chỉnh thi cử: Điều chỉnh cách thi và cách chấm bài, tăng giải ngạch (số lượng Cử nhân được đậu) cho khu vực Nam Bộ.

Bổ sung nhân sự: Tăng cường bổ dụng người Nam Bộ vào bộ máy chính quyền.

Chương 6

TỔNG TRẤN BẮC THÀNH:

NGOẠI GIAO VỚI LÂN BANG

VÀ LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA GIỚI BẮC THÀNH

*****

Đối ngoại mềm dẻo ôn hòa;

Chủ quyền lãnh thổ quốc gia láng giềng;

Lúc đầu liên kết quân Xiêm

Tạo thê Ỷ -Dốc đánh tràn quân Miên(23)

Dùng ống phun lửa đốt liền

Quân Miên tổn thất tìm đường lui quân (24)

Nghiên cứu thế lực đôi bên

Khi “Chiến thắng kế” khi “Cầu viện binh”

***

Xiêm La mưu giúp Nguyễn Vương(25)

“Bình định cương thổ mở mang cõi bờ”

Quận Thành dâng sớ xin thưa(26)

“Quân Xiêm tàn bạo mượn đường nhiễu nhương…

Nếu để Xiêm tặc vào biên

Thắng thua chưa định, quân Xiêm làm càn.

Quân ta sức yếu, chưa bền

Trường kỳ tích lực, đợi thời phản công”(27)

***

Nguyễn Vương nghe tấu ban rằng

Ý khanh giống Trẫm, để bàn kế sau…

Nước Nam tiếp giáp nước Tàu

Thực hiện: triều cống, cầu phong, xưng thần;

Định kỳ cống nạp Trung nguyên;

Quản lý thương mại mặt hàng bán, mua(28)

Vượt biên trái phép di cư,

Đánh quân thổ phỉ bên Tàu tràn sang(29).

***

Quận Thành dâng sớ tâu Vua

Xin cho đo đạc, địa dư Bắc Thành.

Điều tra chứng cứ nhà Thanh;

Xem xét nguồn gốc vẽ ra bản đồ;

Xác lập mốc giới Nam Giao

Xây thêm cửa ải Sông Đà, Đồng Đăng;

Công việc đo, vẽ hoàn thành

Nội ngoại 11 Trấn dâng lên triều đình(30)

Chú thích Chương 6:

(23+24): Năm 1784, Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn truy đuổi phải chạy sang Xiêm. Sau khi Nguyễn Ánh thổ lộ nỗi niềm và tình hình của mình, vua Xiêm đã đồng ý giúp sức và hai bên đã định ngày cử binh. Tháng 6 năm Giáp Thìn (1784), vua Xiêm sai cháu là Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem 2 vạn thủy binh và 300 chiến thuyền đến Nam Bộ. Tuy nhiên, liên quân Xiêm La - Nguyễn Ánh đã bị thất bại nặng nề trước thiên tài quân sự Nguyễn Huệ tại trận Rạch Gầm - Xoài Mút, phải rút quân về.

Đến năm 1786, khi quân “Miến Điện do ba đường tiến binh xâm lấn đất Sài Nặc nước Xiêm... vua Xiêm xin vua [Nguyễn Ánh] giúp kế hoạch". Nguyễn Ánh đã “sai Lê Văn Quân và Nguyễn Văn Thành đi trước, dùng ống phun lửa để đánh. Quân Miến Điện sợ chạy, chết không kể xiết, bị bắt 500 người.

 

(25+26+27): Theo “Quốc sử di biên” của Phan Thúc Trực: Vua Xiêm muốn lại giúp quân cho Nguyễn Ánh thu phục Gia Định”. Lúc đó, Nguyễn Ánh đã triệu các tướng đến bàn, Nguyễn Văn Thành tâu rằng: “Vua Thiếu Khang chỉ có một lữ còn dựng được cơ nghiệp nhà Hạ. Ta nuôi sức mạnh mà thừa chỗ sơ hở thì việc còn có thể làm được, chứ nếu mượn người ngoài giúp, đưa Di Địch vào trong tâm phúc thì sợ để lo về sau. Không bằng cứ yên tĩnh để chờ cơ hội là hơn. Vua khen phải.

Nguyễn Văn Thành sớm rút ra bài học lịch sử từ sự kiện quân Xiêm đã từng “giúp” Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn vào năm 1784. Nguyễn Văn Thành đã thấy được bản chất của quân Xiêm, đây là đội quân “tàn bạo, đến đâu là cướp bóc đến đây, nhân dân ta oán rất nhiều”,

Nguyễn Văn Thành còn “nhìn thấy” mưu đồ của quân Xiêm là muốn “thôn tính” cả nước ta thông qua “thiện chí giúp đỡ”. Trong thời gian này, Xiêm La đang thực hiện đường lối đối ngoại hành trưởng xâm lược. Từ năm 1782 dưới sự trị vì của Ra Ma I, ông đã tiến hành hàng loạt các cuộc chiến tranh xâm lấn những quốc gia nhỏ lân cận như: Chiềng Xen, Chiềng Rai, Viêng Chăn, các quốc gia nhỏ bán đảo Malacca... phong kiến Xiêm La cũng chờ có cơ hội là nhòm ngó lãnh thổ Đại Việt. Cho nên, từ chối “thiện chỉ” của Xiêm La không chỉ tránh được nỗi khổ cho dân chúng mà còn tránh được “sự lo về sau”. Đây là bài học kinh nghiệm sâu sắc trong quan hệ ngoại giao với Xiêm La mà Nguyễn Văn Thành đã sớm nhìn ra. Nhờ vậy, đã tránh được mối họa “đem giặc vào trong nước” Quan điểm ngoại giao này trở thành “kim chỉ nam” cho triều thần nhà Nguyễn trong quan hệ với Xiêm La từ đó trở về sau. 

(28): Theo AI: Giao lưu hàng hóa biên giới Việt - Thanh đầu thời Nguyễn (đầu thế kỷ XIX) diễn ra sôi nổi thông qua các cửa ải, chợ biên giới và các sứ bộ. Triều Nguyễn quản lý chặt chẽ nhưng khuyến khích trao đổi, với các mặt hàng chính là nông lâm thổ sản, hàng thủ công mỹ nghệ, kim khí và nhu yếu phẩm, giúp ổn định kinh tế vùng biên. 

Các hình thức giao thương: Thương mại biên giới: Diễn ra tại các chợ biên giới (như Chợ Phố, Quảng Ninh, Lạng Sơn) và qua các cửa ải; Thương mại qua sứ bộ: Các sứ bộ đi cống nhà Thanh thường kèm theo thương nhân để trao đổi hàng hóa, mua sách vở, vật dụng cao cấp; Buôn bán đường biển: Thuyền buôn người Thanh được phép đến các cửa biển Bắc Kỳ, đặc biệt là Vân Đồn, Hải Phòng để trao đổi hàng hóa.

Các mặt hàng trao đổi: Từ Việt Nam sang Trung quốc: Gạo, hồ tiêu, lâm sản quý (trầm hương, quế), hàng thủ công mỹ nghệ, vàng bạc; Từ Trung Quốc về Việt Nam: Vải vóc, lụa là, đồ sứ, thuốc bắc, sách, kim khí, nhu yếu phẩm.

Quản lý chặt chẽ thương nhân người Hoa (người Thanh) buôn bán tại biên giới để đảm bảo an ninh quốc gia. Duy trì quan hệ thân thiện với nhà Thanh, đồng thời phát triển kinh tế vùng biên giới Bắc Bộ đầu thời Nguyễn. 

(29): Sách Đại Nam thực lục ghi chép một trong những lần Nguyễn Văn Thành trừng trị những toán giặc cướp từ bên Trung quốc tràn sang như sau: “Tháng 2 năm Quý Hợi (1803), người Thiều Châu nước Thanh là Lý Hòa Nguyên cho người sang cướp mỏ Phúc Tinh ở Thái Nguyên. Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành đem quân đánh dẹp. Lý Hòa Nguyên trốn. Bắt được đồ đảng là Trâu Tôn, Lý A Tứ và Trần A Nhị đều chém cả”. Để có thể quản lý chặt chẽ tình trạng đinh điền của nhân dân các dân tộc thiểu số các động sách Tây Nghiễn, Ngưu Đầu, Bạch Sa và Ngư Châu, thuộc châu Vĩnh An, trấn Yên Quảng, vào tháng 6 năm Quý Hợi (1803), Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành kiến nghị lên triều đình nhà Nguyễn cho làm sổ đinh (Đinh bạ), sổ điền (Địa bạ) để sau đó sẽ định thuế khóa. Vua Gia Long chuẩn y lời đề nghị ấy. Vào thời kỳ này, giặc biển Tề Ngôi từ bên kia biên giới Việt – Trung thường đi thuyền vào cướp bóc các địa phương thuộc Yên Quảng như Tiên Yên, Vân Đồn, thậm chí chúng theo sông Bạch Đằng, tiến đến huyện Kinh Môn. Tháng 9 năm Quý Hợi (1803), Tổng trấn Nguyễn Văn Thành sai Chưởng dinh Nguyễn Đình Đắc, Đô thống chế Phan Tiến Hoàng, Tán lý kiêm Binh Bộ Đặng Trần Thường đem quân đi đánh dẹp… Triều đình nghe tin, vua Gia Long sai Nguyễn Văn Trương lãnh quân thủy bộ đến cùng với Nguyễn Văn Thành đánh giặc. Giặc Tề Ngôi bị đánh bại, phải bỏ chạy ra ngoài biển Đông.

(30): Năm Bính Dần 1806, Tổng trấn Nguyễn Văn Thành bèn sai xem xét hình thế núi sông thật kỹ lưỡng nguồn gốc đường biên giới phía bắc dựa vào địa dư từ thuở trước đến thực tế hiện tại, ông đã đề nghị đưa thư và xin đề cử người trao đổi với quan nhà Thanh, vạch rõ địa giới hai nước. Vào mùa đông cùng năm, khi vào kinh chầu, Nguyễn Văn Thành đã dâng lên Đức Vua bản đồ nội ngoại 11 trấn và các phủ, châu, huyện của Bắc Thành tất cả 164 bản.

Có thể khẳng định vào đầu triều Nguyễn, trong thời kỳ Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc thành, đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc đã khá cụ thể, rõ ràng, điều đó được phản ánh trong bộ Hoàng Việt nhất thống dư địa chí mà vua Gia Long sai Lê Quang Định (1759-1813) biên soạn, hoàn thành năm 1806.

Chương 7

TỔNG TRẤN BẮC THÀNH - MẪU THÂN QUA ĐỜI.

*****

Mẫu thân tuổi đã thất tuần

Phong ba sóng gió lênh đênh giữa trời

Người còn đứt gánh cuộc đời
Thờ chồng, nuôi dạy nên người: cháu, con;

Phận con chữ Hiếu vẹn tròn

Đèn vàng trước gió cuộc đời bất công

Thuốc thang chăm sóc, ân cần

Tuổi cao bệnh trọng Mẫu thân qua đời(31)

***

Tiếc thương, đau đớn khôn nguôi

Mẹ ơi, sao mẹ xa lìa chúng, con

Bao nhiêu tình cảm thân thương

Cùng bao lời dạy mẹ dành cho con…

Sớ tâu. Hoàng thượng ban rằng:

An táng Thân Mẫu nghĩa trang quê nhà!

Cáo quan tạ sự triều đình

Áo xô khăn trắng chịu tang sinh thành.

***

Nhà Vua ban chiếu “nhân từ”(32)

Chuẩn cho “lĩnh tuất” lo tang mẹ già

Lăng mộ an táng Cố Bà

Trên đồi lịch sử Châu Ê- Kinh Thành(33)

Dáng mồ voi phục uy danh

Hai vành bán nguyệt đá xanh xây ngoài;

Cảnh sắc sông núi đẹp tươi

Mẫu thân an nghỉ ngàn thu vĩnh hằng…

Chú thích chương 7:

(31): Cố bà Trần Thị Đàn–Thân mẫu ngài Tổng trấn Nguyễn Văn Thành sinh ngày 20/10 AL năm Canh Thân tại thôn Bình Long, tổng Tân Phong, huyện Tân Phong, phủ Tân Bình, Trấn Phiên An-Gia Định. Mất ngày 27/3 năm Kỷ Tỵ, an táng tại xứ Đá Bạc, xã Kim Sơn, huyện Hương Thủy, phủ Thừa Thiên;

(32): Khi thân mẫu của các đại thần qua đời Nhà Vua thường thể hiện ân sủng bằng cách ban chiếu phủ dụ, an ủi, hoặc gửi lễ vật tang lễ (cỗ xe tang, tiền vàng, đồ thờ). Việc này nhằm khích lệ tinh thần trung quân ái quốc, bày tỏ sự quan tâm đặc biệt đối với bề tôi có công lớn với quốc gia, thường đi kèm việc chuẩn y cho đại thần được "lĩnh tuất" (nghỉ ngơi, để tang) để tròn đạo hiếu,

(33): Lăng mộ an táng Cố Bà Trần Thị Đàn tại Khu di tích lịch sử Châu Ê – Kim Sơn nằm trên một quả đồi rộng trên 2ha ở ranh giới giữa Phường Thủy Dương và phường Thanh Thủy – Chếch đối diện bên kia đường cái là Lăng Vua Khải Định; Khu lăng Cố Bà trước đây thuộc xã Thủy Dương, Thị xã Hương Thủy - Thành phố Huế; sau khi sáp nhập đơn vị hành chính, thuộc địa phận phường Thủy Dương- Thành phố Huế (2025). 

 

Chương 8

THỜI KỲ LÀM QUAN TẠI KINH ĐÔ HUẾ

NHỮNG CỐNG HIẾN VÔ GIÁ

*****

Ngự Triều Hoàng đế ban khen:

Tám năm Tổng trấn biết bao thăng trầm(34)

Củng cố bộ máy chính quyền

Thu hút, bổ nhiệm sĩ phu Bắc Hà

Xây dựng hệ thống quan nha,

 Những nơi trọng yếu cử người thực thi

Mưu cao trị nước ai bì

Công trình văn hóa điểm tô Bắc Thành (35).

***

Triệu khanh về với Triều đình

Sắc phong Nhất phẩm Trung quân đầu Triều(36).

Quận Thành lĩnh mệnh, muôn tâu:

“Đà Nẵng – Chiến lược nối liền Bắc, Nam

Sông Hàn huyết mạch giao thông;

Giám sát cửa biển thuyền ra, thuyền vào;

Khẩn cấp xây dựng pháo đài

Phòng thủ vững chắc giữ gìn Kinh đô”

***

Đức Vua đồng ý lời thưa

Cử người đo vẽ địa dư, địa hình

Cử Ngài xây dựng lưỡng đài (37)

Xây thêm phòng tuyến liên hoàn miền Trung (38)

Pháo đài xây dựng thành công

Hào sâu kiên cố, hành cung, kho tàng;

Hệ thống phòng thủ vững vàng;

Khiến liên quân Pháp - Pha Nha dính đòn(39).

***

Trải bao chinh chiến hao mòn

Bộ máy công quyền còn mỏng chưa tinh.

Thánh Thượng trăn trở ngày đêm:

“Ổn định xã hội, kỷ cương vững bền!”

Quận Thành dâng tấu thưa rằng:

“Cần lập Sử cục(40), định danh Luật - Hình”

Triều đình tín nhiệm Văn Thành

Giao quản Sử Cục chức danh Tổng tài.

***

Triều đình giao việc rõ ràng:

Biên soạn chính sử, giữ gìn thuần phong(41)

Tham khảo Luật pháp triều Thanh,

Nghiên cứu pháp luật nước Nam tiền Triều

Biên soạn: Chương, mục, khoản, điều

“Hoàng Việt Luật lệ”(42) dâng lên Triều đình;

Hoàng đế đọc, duyệt từng dòng;

Tự hào, mãn nguyện, khắc in ban hành.

***

Ngài bèn dâng sớ tâu trình

Công việc Sử cục cần thêm nho thần;

Vua phong Quý Thích, Nguyễn Đường,

Cùng với Trần Toán bổ sung kịp thời.

Cùng năm giao chức Tổng tài

Nghiên cứu, ghi chép Sử Triều nước Nam

“Quốc triều thực lục”(43) đặt tên

Ghi rõ sự kiện, hành trang Triều đình..

Chú thích Chương 8:

(34): Quận công Nguyễn Văn Thành đương chức Tổng trấn Bắc Thành 8 năm: từ năm 1802 đến năm 1810;

(35): Trong 8 năm làm Tổng Trấn Bắc Thành, Quận Công Nguyễn Văn Thành đã có công tô điểm cho Thăng Long – Hà Nội các công trình kiến trúc văn hóa độc đáo như: việc xây dựng Hoàng Thành Thăng Long, dựng Cột cờ Hà Nội, dựng Khuê Văn các và đặt ngôi chợ chính tại cửa Đông-chính là Chợ Đồng Xuân – Bắc qua ngày nay .

(36): Năm 1809, Mẫu Thân qua đời, Quận Công Nguyễn Văn Thành rước thi hài Mẫu thân về an táng tại phủ Thừa Thiên - Huế. Cũng năm đó Vua Gia Long phong cho ông chức Trung quân là chức to nhất trong quân đội;

(37+38): Năm Quý Dậu 1813, xác định rõ vị trí chiến lược quan trọng của Đà Nẵng nên nhà Nguyễn đã cho đo đạc cửa biển của địa danh này, kết hợp với việc vẽ bản đồ và bố trí thủy quân. Nguyễn Văn Thành được Nhà vua cử đi lập pháo đài Điện Hải và An Hải nằm hai bên tả hữu cửa biển sông Hàn, để kiểm soát thuyền bè ra vào và trấn giữ Đà Nẵng.

Sau này, triều đình cho rằng các pháo đài này có thành trì vững mạnh hơn hẳn những pháo đài ven biển khác nên đặc cách cho gọi là thành.

Thành Điện Hải là đồn trấn giữ cửa sông Hàn quan trọng, sau được mở rộng theo kiến trúc Vauban (Pháp), cùng với Đồn An Hải bên kia sông tạo thành hệ thống phòng thủ liên hoàn vững chắc miền Trung góp phần bảo vệ kinh đô Huế, nổi tiếng với trận chiến chống Pháp 1858.

Thành Điện Hải đã được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt, là minh chứng cho tinh thần kiên cường của nhân dân Đà Nẵng.

(39): Pha Nha là viết tắt của tên gọi Tây Ban Nha. Đây là sự kiện xảy ra sau này. Năm 1858-1859: Liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng lần thứ nhất để chính thức xâm lược Việt Nam. Đây là trận đánh kéo dài nhiều ngày, khởi sự từ ngày 31 tháng 8 năm 1858 và kết thúc vào ngày 2 tháng 2 năm 1859. Sau năm tháng giao tranh, liên quân Pháp – Tây Ban Nha chỉ chiếm được một ngọn núi không người và vài làng ven biển không người. Họ không dám tiến sâu... Họ mong chờ một cuộc nổi loạn của nhân dân Nam – Ngãi theo lời hứa hẹn của các giáo sĩ Pháp, mà không thấy. Trong lúc tiến thoái lưỡng nan ấy, thì liên quân bị đau ốm và chết chóc khá nhiều, căn bản không phải vì súng đạn, mà chính vì phong thổ khí hậu. Thức ăn lại rất khó tìm, thuốc men không đủ dùng, thỉnh thoảng bị quân Việt đến tập kích, bắn tỉa. Đây là thắng lợi lớn nhất của quân và dân Nam Việt nhờ mưu trí dũng cảm và hệ thống phòng thủ vững chắc (Thành Điện Hải và An Hải hai bên cửa biển song Hàn) do Nguyễn Văn Thành xây dựng từ những năm 1813.

(40-41): Theo Quốc sử di biên: Sử cục triều Nguyễn, thực chất là Quốc sử quán, là cơ quan chuyên trách biên soạn chính sử và các công trình văn hóa, địa lý, với các chức danh chính như Tổng tài (quản lý, điều hành) và Phó Tổng tài, cùng các nhóm Toản tu, Biên tu (viết chính), Đằng lục (sao chép), Thu chưởng (lưu trữ). Nhiệm vụ của Quốc sử quán là thu thập, biên soạn, san định và lưu trữ các bộ chính sử như Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, và các sách địa lý như Đại Nam nhất thống chí, phục vụ công tác ghi chép lịch triều. Người được giao trọng trách làm Tổng tài Quốc sử quán là Đại thần Nguyễn Văn Thành.

Nhằm kiện toàn bộ máy chính quyền Nhà nước, Gia Long nghĩ ngay tới việc chỉnh đốn pháp luật, biên soạn một bộ sách luật để có thể điều hành chính sự theo pháp chế. Năm Tân Mùi (1811), nhà vua đã sai đình thần soạn định luật lệ. Trong bài Dụ có đoạn viết: “Các bậc đế vương trị nước, hình pháp đặt ra đã lâu. Hình pháp không đúng thì dân không chỗ mà nắm. Nay luật lệ chưa định, pháp ty không theo vào đâu được, thực không phải ý “Khâm tuất minh doãn”149 của Trẫm. Bọn khanh nên hết

(42): Hoàng Việt luật lệ. Theo Từ điển bách khoa toàn thư: Năm 1810, Nguyễn Văn Thành được triệu về kinh, lãnh ấn Trung quân, rồi được giao cử chức Tổng tài cùng với Vũ Trinh và Trần Hựu soạn bộ Hoàng Việt Luật Lệ (thường được gọi là luật Gia Long). Việc soạn Hoàng Việt Luật Lệ bắt đầu từ tháng 2 năm 1811 và đến tháng 8 năm 1812 thì hoàn tất. Bộ luật có hai phần, chia làm hai mươi hai quyển, có tất cả ba trăm chín mươi tám điều, ban hành năm 1812, đến năm 1815 được khắc in.

Trước khi ban hành, Nguyễn Văn Thành dâng sớ tâu lên vua Gia Long "...đặt lại quy tắc khoan hồng và thưởng phạt. Khi xem đến luật triều Thanh, đức Thánh thượng nhận thấy đó là bộ luật gồm đủ các sắc luật của các triều đại trước, nên ban sắc chỉ dạy các quan đem ra bàn bạc, xem xét cùng hạ thần ngỏ hầu chọn lấy những gì khả dĩ soạn thành bộ luật riêng để dùng trong nước... Sách đã dạy: Trừng phạt để về sau không còn phải trừng phạt nữa, đặt ra tội hình để về sau không còn phải dùng đến tội hình nữa. Điều đó há chẳng phải là điều mà Đức Thánh thượng hằng mong muốn hay sao?"

Hoàng Việt Luật Lệ xếp theo sáu loại: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công luật. Cũng giống như luật Hồng Đức, đây là một bộ luật phối hợp, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội thuộc nhiều lãnh vực khác nhau: từ luật hình sự, luật dân sự, luật tố tụng, luật hôn nhân gia đình đến cả luật hành chính, luật tài chính, luật quân đội và luật tư pháp quốc tế. Hoàng Việt Luật Lệ là luật thực định của một triều đại tồn tại hơn một thế kỉ và nó góp phần ổn định trật tự xã hội, củng cố các phong tục, tập quán cổ truyền của dân tộc.

(43) Vào tháng 1 năm 1812, Nguyễn Văn Thành được sung chức tổng tài trong việc biên soạn Quốc Triều Thực Lục. Như vậy trong cùng một khoảng thời gian, ông đã kiêm nhiệm hai chức Tổng tài.

Chương 9

VỤ ÁN XUẤT PHÁT TỪ HAI CÂU THƠ

*****

Trung quân ái quốc thương dân;

Tấm lòng hiếu nghĩa, sáng ngời nước non.

Thói đời ghen ghét đua chen;

Nhiều kẻ thua kém lập mưu hại Người.

Mượn thơ vu khống trung thần (44)

Nhà Vua ngoảnh mặt, mặc Ngài kêu oan;

Đế vương “Điểu tận, cung tàng”

Giữ gìn ngôi báu, giết oan Trung thần(45).

***

Lệnh Vua - sét đánh kinh hoàng

Dòng tộc hoảng loạn cháu con hãi hùng

Thu hồi ấn kiếm Trung quân

Tịch biên gia sản, ruộng vườn Vua ban;

Bắt người tra tấn dã man

Bức cung, dọa dẫm khai man đủ điều

Người thì đao chém, lăng trì;

 Kẻ thì đổi họ, bỏ làng tha hương.

***

Dân làng, hương chức Khê Lương(46)

Nhớ công quan lớn giúp làng thuở xưa(47)

Đồng tâm dâng sớ tâu Vua:

Xin được an táng Trung quân tại làng(48);

Đến thời Minh Mệnh đăng quang

Tiếp tục truy xét, giam cầm tử tôn;

Đã nhiều tấu sớ kêu oan

Vụ án còn đó nỗi oan thấu trời.

Chú thích chương 9:

(44): Mượn cớ bài thơ của Nguyễn Văn Thuyên con trai trưởng của Quận công Nguyễn Văn Thành viết cho người bạn. Chỉ vì 2 câu thơ cuối mà Triều đình vu cáo phản loạn, cả dòng họ bị chu di tam tộc…

 

 

Văn đạo Ái Châu đa tuấn kiệt,

Hư hoài trắc tịch dục cầu ty.

Vô tâm cửu bảo Kinh Sơn phác,

Thiện tướng, phương tri Ký-bắc Kỳ.

U-cốc hữu hương thiên lý viễn,

Cao vương minh-phượng cửu thiên tri.

Thử hồi nhược đắc Sơn trung tể,

Tá ngã kinh-luân chuyển hóa ky.

 

Dịch nghĩa là:

Ái-châu nghe nói lắm người hay,

Ao ước cầu hiền đã bấy nay.

Ngọc phác Kinh-Sơn tài sẵn đó,

Ngựa Kỳ Ký-bắc biết lâu thay.

Mùi hương hang tối xa nghìn dặm,

Tiếng phượng gò cao suốt chín mây.

Sơn tể phen này dù gặp gỡ,

Giúp nhau xoay-đổi hội cơ này.

 

(45): Theo Bách gia toàn thư mở, tháng 4 AL năm 1816, vua ra lệnh thâu ấn Trung quân của Nguyễn Văn Thành, giam Nguyễn Văn Thuyên (con ông Thành) vào ngục, vì ông Thuyên có làm một bài thơ bị Lê Văn Duyệt (vốn có hiềm khích với ông Thành từ trước) mật tâu, cho là có ý mưu phản. Duyệt sau đó vì các mối hiềm khích mà thúc ép xét xử cha con Quận Thành. Tham tri bộ Lại Trần Văn Tuần nói rằng: Trung quân (Văn Thành) với Tả quân (Lê Văn Duyệt) là người đồng công cộng thể, Trung quân ngày nay như thế thì ông ngày sau thế nào? Duyệt nghe lời nói ấy cũng hơi buồn, thôi không tức giận Thành nữa.

Mọi việc kêu oan của ông đều không được Gia Long minh xét. Vị quan, một đời tận tụy, hiểu rằng: Án đã xong rồi, vua bắt bề tôi chết, bề tôi không chết không phải là trung, di biểu để lại còn ghi: "Sớm rèn tối luyện dệt thành cái tội rất độc ác cho cha con thần, không biết kêu oan vào đâu, chỉ chết mà thôi". Ông bị bức tử, buộc phải uống thuốc độc trong ngục vào ngày 11 tháng 5 AL năm Đinh Sửu (1817), hưởng thọ sáu mươi tuổi, con trai ông là Nguyễn Văn Thuyên thì bị xử án chém.

(46+47+48): Trong Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 2/128.2016 đăng bài “Dấu tích danh nhân Nguyễn Văn Thành trên đất Thừa Thiên Huế” của 2 nhà nghiên cứu lịch sử: Nguyễn Văn Đăng và Mai Văn Được đã nêu câu chuyện đến nay vẫn truyền tụng về tấm lòng thương dân của ông. Các bậc cao niên trong làng kể lại rằng: “Khi Dã Lê tách xã thành Dã Lê Chánh và Dã Lê Thượng, làng Dã Lê Chánh chịu tách đinh chứ không chịu tách điền. Từ đó dân hai làng xảy ra mâu thuẫn gay gắt về tranh chấp ruộng đất,và ranh giới gây mất an ninh địa phương và kéo dài, không thể giải quyết dứt điểm. Biết chuyện như vậy, Nguyễn Văn Thành mới chỉ cho dân làng Dã Lê Thượng biết sắp tới vua Gia Long sẽ đi ngang qua, dân làng hãy ra quỳ xin dâng tấu sớ, ông sẽ tâu giúp. Dân làng nghe theo. Cuối cùng, vua cũng chấp nhận lời thỉnh cầu tách điền của dân làng Dã Lê Thượng. Do đó, dân 2 làng mang ơn của ông. Vì vậy khi Nguyễn Văn Thành qua đời, Hương chức dân làng bèn tâu với Huyện quan và Triều đình cho phép an táng Vị đại quan tại quả đồi xứ Khê Lương, (hiện nay là tổ 12, phường Thủy Phương, thị xã Hương Thủy) để báo ân Đức Ngài. Đến năm 2003, lăng mộ Ngài được di chuyển về làng Dã Lê xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy – Thừa Thiên Huế.

Chương 10

VUA TỰ ĐỨC ĐÃ BAN SẮC GIẢI OAN

 CHO QUẬN CÔNG NGUYỄN VĂN THÀNH

*****

Đinh Mùi – Thiệu Trị qua đời(49),

Tháng Mười Hồng Nhậm(50) đăng cơ trị vì;

Nhà vua đức độ từ bi

Sửa sang triều chính, chăm lo dân lành…

Bồn chồn cuối buổi thiết triều

Đức Ngài tản bộ khuôn viên Hoàng Thành;

Lượn qua khúc phố quạnh hiu

Bỗng đâu có tiếng ngân dài thở than!

***

Ngài ngoảnh bốn phía dõi xem;

Trong đám cỏ dại hiện hai tượng thần(51)

Đức Vua bối rối, bần thần!

Công thần khai quốc sao nằm ở đây?(52)

Dỗi hờn, oan ức chi đây?

Hãy “than thở” lại Trẫm xem thế nào.

Dứt lời bụi cát ào ào…

Thoảng trong tiếng gió vẳng lời thở than…

***

Thượng triều có sắc Vua ban

Xét lại vụ án Trung Quân - Tiền triều…

Pháp Ty(53) xem xét kỹ càng

Tâu Vua phê duyệt giải oan công thần

Mậu Thân(54) Hoàng đế gia ân(55)

Phục hồi tước vị Quận công Văn Thành

Được thờ tại Miếu Trung Hưng(56)

Khôi phục Họ tộc uy danh một thời.

Chú thích chương 10:

(49): Vua Thiệu Trị băng hà năm Đinh Mùi (Theo Bách khoa toàn thư mở). Thiệu Trị (chữ Hán: 紹治, sinh 16 tháng 6 năm 1807 mất 4 tháng 11 năm 1847), húy là Nguyễn Phúc Dung (阮福), sau cải thành Nguyễn Phúc Miên Tông (阮福綿宗), là vị hoàng đế thứ ba của nhà Nguyễn nước Đại Nam trong lịch sử Việt Nam. Ông kế vị vua cha là Minh Mạng, trị vì từ năm 1841 đến khi qua đời, tổng cộng gần 7 năm, được truy tôn miếu hiệu là Hiến Tổ (憲祖), thụy hiệu Thiệu Thiên Chương Hoàng Đế (紹天章皇帝).

(50): Tháng 10 năm 1847, Tự Đức (chữ Hán嗣德, 22 tháng 9 năm 1829 – 19 tháng 7 năm 1883) tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (阮福洪任), khi lên ngôi đổi thành Nguyễn Phúc Thì (阮福時), là vị hoàng đế thứ tư của triều Nguyễn. Ông là vị vua có thời gian trị vì lâu dài nhất của nhà Nguyễn,từ năm 1847 đến 1883, ông được truy tôn miếu hiệu là Nguyễn Dực Tông (阮翼), thụy hiệu là Anh Hoàng Đế. Vua Tự Đức được đánh giá là một vị vua có tư cách tốt, tính tình hiền lành. Ông chăm chỉ xem xét việc triều chính và không hề trễ nải. Theo Việt Nam sử lược, ông thường chít khăn vàng và mặc áo vàng, khi có tuổi thì ông hay mặc quần vàng và đi giày vàng do nội vụ đóng, không ưa dùng trang sức, cũng không cho các bà cung phi đeo đồ nữ trang, chỉ cốt lấy sạch sẽ làm đẹp. Ông thường dậy sớm thiết triều từ 6 giờ sáng, chăm chỉ phê duyệt tấu chương, là một vị vua cần cù chăm chỉ.

(51+52): Theo Chuyện lạ kinh thành Huế - Kỳ 6: Đá Hờn linh thiêng kỳ lạ. Chuyện xưa ở Huế truyền lại rằng, trong quá trình xây dựng Thiên Thụ lăng của Thế Tổ Cao hoàng đế (Gia Long), người ta chế tác các tượng quan hầu, voi đá, ngựa đá để đưa lên chầu hai bên sân lăng. Trong khi những bức tượng khác được di chuyển, đưa đi dễ dàng thì có hai bức tượng, một tượng trưng cho Lê Văn Duyệt, một tượng trưng cho Nguyễn Văn Thành "không chịu đi". Cho dù người đẩy, voi kéo hay kiểu gì thì hai bức tượng cũng đứng trơ trơ không suy suyển. Triều đình bèn đặt tạm ở lề đường trong Đại Nội (Ngã tư Phùng Hưng và Nhật Lệ). Đến thời Tự Đức: một hôm nọ, vua Tự Đức đi ngang qua đấy. Vua nghe một tiếng rên rỉ kéo dài. Vua thành tâm cầu nguyện các thần: Nếu quả các ngươi đã thành thần, xin nêu lại cho trẫm nghe và trẫm sẽ sắc phong". Và tiếng rên rỉ lại kéo dài lần nữa. Đó là các tôi trung đã than oán về sự lãng quên đối với họ. Khi sống họ là những vị tướng. Khi chết đáng lẽ họ được phong thần. Nhà vua đã sắc phong thần cho tượng: Nhà Vua đã cho dựng miếu thờ lấy tên là Miếu Thạch Thần tướng quân hay Miếu đá hờn. Các quan văn, quan võ, quân lính đều đến cầu nguyện; các thí sinh vào trường thi cũng đến khấn vái; các thương gia đến xin cho mua rẻ bán đắt. Các vị thần đã ban ân huệ cho những kẻ đến thỉnh cầu.

(53): Pháp ty (hay Tam Pháp ty) là một cơ quan tư pháp cao cấp Triều Nguyễn  Việt Nam, chuyên trách về xét xử, điều tra các vụ án oan sai, vi phạm pháp luật, bảo vệ công lý và quyền lợi của dân, gồm các bộ phận như Đô tyHiến tiĐại lý tự, và có cả hệ thống trống "Đăng Văn" để dân kêu oan trực tiếp. Chức năng chính: Xét xử: Thẩm định các vụ án, đặc biệt là án nặng (tử hình, lưu tội) trước khi trình lên vua; Điều tra: Tố giác và điều tra các hành vi sai trái, tham nhũng, oan ức của quan lại và dân chúng. Tiếp nhận đơn thư: Nhận đơn tố cáo, đơn kêu oan từ dân, có hệ thống "Đăng Văn" để người dân có thể đánh trống kêu oan khi cần thiết. Thực thi công lý: Đảm bảo việc xét xử công bằng, bảo vệ quyền lợi của nhân dân, phản ánh thực trạng xã hội. 

(54+55): Năm Mậu Thìn 1868, sau khi nguyên niên được 21 năm, vua Tự Đức đã truy xét công trạng, ban chiếu giải oan cho liệt dự miếu Trung hưng công thần, truy phục chức Chưởng Trung Quân, Bình tây đại tướng quân - Quận công cho Nguyễn Văn Thành. Sau đây là bản dịch nghĩa Sắc gia ân do dịch giả Lê Xuân Hoàng phụng dịch: “Nhân lúc vận trời đang hưng vượng Hoàng Đế phán rằng:Ta nghĩ công thần là khí tốt của nước nhà, là người có quyền lớn, những việc làm kỳ lạ đều bày ra tốt đẹp, có công và có tội cũng có khi xảy ra. Các quan nhà Châu đều đặt ra tám nghị (điều) còn bên sách Tả truyện thì có mười điều là để khen chê những người có công hay có tội.

Trước đây Vọng Các Công Thần là ông Quận Công Thành, NGUYỄN VĂN THÀNH là một người công thần cũ, là con của ông NGUYỄN VĂN HIỀN, là một nhà trung nghĩa đời đời đều có công, đã từng đánh giặc nhiều phen, đánh trăm trận lên đến Đại tướng, chức đến Thượng công. Sử sách còn để rõ ràng. Về triều đại Gia Long, nhân vì người con có tội, mà để lụy cho cha, có dâng biểu lên thì nhà Vua cũng cảm động. Đến triều đại Minh Mạng, Thiệu Trị cũng đem ra xét và đã thi ân tha tội. Trẫm ngưỡng truy vì ta đây thấy chỗ đời trước cũng thương tiếc đến công trạng. Sắc cho đình thần phải hai ba lần xét lại cho rõ ràng, rồi cho lại chức tước đúng như nguyên hàm mà thờ tự.Như thế là đã thi ân nhiều cho ông NGUYỄN VĂN THÀNH được phục chức Vọng Các Công Thần, tước Quận Công, được thờ vào miếu Trung Hưng Công Thần và cho cáo mạng để an ủi linh hồn. Than ôi! Công lao nặng như đá, không lẽ vì một chút đứa con mà phải bị mất hết, cho nên phải truy lục lại để tỏ rõ là ơn của nhà Vua vậy.Như vậy là đã đối xử một cách rất hậu đối với tướng tài, nhà Vua không quên ơn của người có công, mặc dầu đã qua đời lâu nhưng vẫn như còn sống vậy”.

Ngày 17 tháng 4 năm Tự Đức thứ 21.

Chương 11

LỜI KẾT

Hai trăm năm đã qua rồi

Cờ bay phấp phới giữa trời Thủ Đô(57)

Khuê Văn tỏa sáng ngàn Thu

Thăng Long Thành cổ Thủ đô Hòa Bình

Lăng Ngài thành Huế lung linh(58)

Thành cổ An, Điện(59) vẫn luôn nhớ Người

Hoàng Việt Luật lệ ra đời

Kỷ cương xã hội, diệt trừ tham quan.

***

Đá hờn(60) dấu tích vẹn nguyên

Thạch thần(61) đứng đó kẻ gian cúi đầu 

Tân An - Đình cổ bền lâu(62)

Sắc phong còn đó triện vàng chưa phai;

Miếu, Đình dân dựng muôn nơi,

Dâng hương, tưởng nhớ Đức Ngài Quận công.

Việt Nam đất nước hùng cường;

Công ơn Tiền bối đời đời khắc ghi.

Chú thích chương 11:

(57): Cở bay trên cột cờ Hà Nội

(58): Lăng Quận công Nguyễn Văn Thành tại Cố đô Huế;

(59):Thành cổ Điện Hải và An Hải tại cửa song Hàn Đà Nẵng;

(60+61): Miếu Thạch thần tướng quân hay Miếu Đá hờn - Đại Nội Huế

(62): Đình Tân An hay gọi là Đình Bến Thế là nơi cách đây trên 220 năm, Quận Công Nguyễn Văn Thành cùng Chúa Nguyễn Phúc Ánh đã chọn nơi rừng núi bạt ngàn này để tuyển mộ những người nông dân áo vải đăng lính để luyện tập võ công, binh thư tham gia vào quân đội do Chúa Nguyễn lãnh đạo. Họ đem theo cả gia đình, vợ con ở mọi nơi trên dải đất hình chữ S về đây để mong muốn lập công. Cứ như vậy hết thế hệ cha, anh… nối tiếp đến lập nghiệp và nhiều ngôi làng đã mọc lên. Từ một vùng hoang vu, rừng rú nơi đây đã trở thành một căn cứ địa do Tướng quân Nguyễn Văn Thành làm chủ soái. Năm 1817, Khi Quận công Nguyễn Văn Thành qua đời, người dân luôn tưởng nhớ tới công lao của Người; Năm 1820, họ quyết định dựng nên ngôi đình để 4 mùa cúng tế, tưởng nhớ tới vị tưỡng tài ba, nhân hậu đã có công với dân làng khi xưa.

Đình Tân An xây dựng trên 3 ha rừng gỗ Sao. Hàng năm cứ đến ngày Sinh của Quận Công 13/11 Âm lịch, dân địa phương đã tổ chức lễ hội trong 3 ngày (13, 14,15 tháng 11). Trong lễ hội tổ chức rước Sắc thần do Vua Tự Đức ban năm 1868. Hiện nay Ngôi đình đã được công nhận: Đình Tân An là di tích kiến trúc độc đáo cấp Quốc gia năm 2014. Năm 2021 được nhà nước cấp bằng: Lễ hội Đình Tân An là di tích văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

NDH

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GHI CHÚ:

VĂN TẾ TƯỚNG SĨ TRẬN VONG

Than ôi! Trời Đông Phố vận ra Sóc Cảnh [2], trải bao phen gian hiểm mới có ngày nay; nước Lô hà chảy xuống Lương giang [3], nghĩ mấy kẻ điêu linh [4] những từ thuở nọ, cho hay sinh là ký mà tử là quy; mới biết mệnh ấy yểu mà danh ấy thọ.

Xót thay! Tình dưới viên mao [5], phận trong giới trụ [6]. Ba nghìn họp con em đất Bái [7], cung tên ngang dọc chí nam nhi; hai trăm vây cờ cõi non Kỳ [8], cơm áo nặng dầy ơn cựu chủ.

Dấn thân cho nước, son sắt một lòng; nối nghĩa cùng thầy, tuyết sơn mấy độ.

Kẻ thời theo cơ đích [9] chạy sang miền khách địa, hăm hở mài nanh giũa vuốt, chỉ non Tây thề chẳng đội trời chung; kẻ thời đón việt mao [10] trở lại chốn sa cơ, dập dìu vén cánh nương vây, trông cõi Bắc quyết thu về đất cũ.

Nằm gai nếm mật [11], chung nỗi ân ưu; mở suối bắc cầu, riêng phần lao khổ.

Trước từng trải Xiêm La, Cao Miên về Gia Định mới dần ra Khánh, Thuận [12], đã mấy buổi sơn phong hải lễ [13], trời Cao, Quang [14] soi tỏ tấm kiên trinh, rồi lai từ Đồn Bàn, Nam, Ngãi lấy Phú Xuân mà thẳng tới Thăng Long [15], biết bao phen vũ pháo vân thê [16], đất Lũng, Thục [17] lăn vào nơi hiểm cố.

Phận truy tùy, ngẫm lại cũng cơ duyên; trường tranh đấu biết đâu là mệnh số.

Kẻ thời chen chân ngựa quyết giật cờ trong trận, xót lẽ gan vàng mà mệnh bạc, nắm lông hồng [18] theo đạn lạc tên bay; kẻ thời bắt mũi thuyền toan cướp giáo giữa dòng, thương thay phép trọng để thân khinh, phong da ngựa [19] mặc bèo trôi sóng vỗ.

Hồn tráng sĩ biết đâu miền minh mạc [20], mịt mù gió lốc, thổi dấu tha hương [21]; mặt chinh phụ khôn vẽ nét gian nan, lập lòe lửa trời, soi chừng cổ độ [22].

Ôi! Cùng lòng trung nghĩa, khác số đoản tu [23], nửa cuộc công danh, chia phần kim cổ [24].

Đoái là tiếc xương đồng da sắt, thanh bảo kiếm đã trăm rèn mới có, nợ áo cơm phải trả đến hình hài; những là khen dạ đá gan vàng, bóng bạch câu [25] xem nửa phút như không, ơn dầy đội cũng cam trong phế phủ [26].

Phận dù không gác khói đài mây [27]; danh đã dậy ngàn cây nội cỏ.

Thiết vì thuở theo cờ trước gió, thân chả quản ngàn sương đệm giá, những chờ xem cao thấp bức cân thường [28]; tiếc cho khi lỡ bước giữa dòng, kiếp đã về cõi suối làng mây, nào kịp thấy ít nhiều ơn Vũ lộ [29].

Vâng thượng đức hồi loan [30] tháng trước, đoàn ứng nghĩa dẫn Quảng, Thuận, Nghệ, Thanh [31] cũng vậy, giội ân quang gieo khắp xuống đèo Ngang; mà những người từng thượng trận ngày xưa, dắp tấu công tự ngọ, vị, thân, dậu [32] đến giờ, treo tính tự để nằm trong lá số.

Ngọn còi rúc nguyệt, nơi tẻ nơi vui; dịp trống dồn hoa; chốn tươi chốn ủ. Đã biết rằng anh hùng thì chẳng quản, trăm trận một trường oanh liệt, cái sinh không, cái tử cũng là không; nhưng tiếc cho tạo hóa khéo vô tình, ngàn năm một hội tao phùng, phân thủy có phận chung sao không có [33].

Bản chức nay, vâng việc biên phòng, chạnh lòng niềm viễn thú. Dưới trướng nức mùi chung đỉnh, sực nhớ khi chén rượu rót đầu ghềnh; trong nhà rõ vẻ áo xiêm, chạnh nghĩ buổi tấm cừu vung trước gió. Bâng khuâng kẻ khuất với người còn; tưởng tượng thầy đâu thì tớ đó.

Nền phủ định [34] tới đây còn xốc nỗi, vu lòng một lễ, chén rượu thoi vàng; chữ tương đồng ngẫm lại vốn đinh ninh, khắp mặt ba quân, cờ đào nón đỏ, có cảm thông thì tới đó khuyên mời; dù linh thinh hãy nghe lời dặn dỗ.

Buổi chinh chiến hoặc oan hay chẳng, cũng chớ nề kẻ trước người sau, hàng trên lớp dưới, khao thưởng rồi sẽ tấu biểu dương cho; hội thăng bình đừng có nghĩ rằng không, dù ai còn cha già, mẹ yếu, vợ góa, con côi, an tập hết, cũng ban tồn tuất đủ.

Hồn phách đâu đều ngày tháng Thuấn, Nghiêu [35]; hài cốt đó cũng nước non Thang, Vũ [36].

Cơ huyền diệu [37] hoặc thâm trầm chưa rõ, thiêng thời về cố quận, để hương thơm lửa sáng, kiếp tái sinh lại nhận cửa tiền quân [38]; niềm tôn thân dù sinh tử chớ nề, linh thời hộ Hoàng triều cho bể lặng sóng trong, duy vạn kỷ chửa dời ngôi bảo tộ [39].

Nguyễn Văn Thành

 

 

Chú thích

  1.  Có ý kiến cho rằng bài này do Nguyễn Huy Lượng viết, có ý kiến cho là của Đặng Đức Siêu, nhưng đều chưa có bằng chứng xác đáng (Hợp tuyển thơ văn Việt Nam tập III, Nxb Văn học, 1978, tr.592).
  2.  Đông Phố là tên cũ thành Gia Định; Sóc Cảnh là cõi Bắc; ý nói từ Gia Định ra tới Bắc Hà (Hà Nội).
  3.  Lô hà nhất danh là sông Tuyên, chẩy qua Tuyên Quang, rồi đổ xuống sông Nhị hà. Lương giang tức là Phú Lương giang tên cũ sông Nhị hà.
  4.  Điêu linh là tàn rụng, chỉ những người chẳng may chết trận.
  5.  Viên là viên môn, cửa dinh (doanh) quan đại tướng; mao là cờ tiết mao, hiệu lệnh trong quân.
  6.  Giới trụ là áo giáp, mũ trụ của tướng sĩ.
  7.  Vua Hán Cao Tổ ở bên Tàu khi khởi binh ở ấp Bái, họp con em ba nghìn người; đây ví những nguời theo đức Gia Long cũng khảng khái như bọn quan sĩ vua Hán Cao Tổ vậy.
  8.  Tên núi ở tỉnh Thiểm Tây bên Tàu, có tiếng là hiểm trở, chỉ hai trăm người địch nổi hai nghìn người; vua Văn Vương nhà Chu sáng nghiệp ở đấy; đây sánh những người theo vua Gia Long cũng hăng hái như bọn quân sĩ vua Chu Văn Vương vậy.
  9.  Cơ đích là hàm thiếc dây cương, ý nói theo vua giữ ngựa. Đây là nói hồi vua Gia Long bị quân Tây Sơn đánh thua phải trốn sang Xiêm La.
  10.  Việt mao là cái phủ Việt và cờ tiết mao. Đây là nói hồi vua Gia Long từ Xiêm về thu phục được thành Gia Định.
  11.  Điển cũ; vua Câu Tiễn nước Việt khi mất nước thường nằm trên gai, nếm mật đắng để nghĩ kế khôi phục; ý nói chịu nổi khổ sở.
  12.  Là Thanh Hóa và Bình Thuận.
  13.  Sơn phong là gió núi; khi đức Gia Long đóng ở đảo Côn Lôn, quân Tây Sơn chợt đến vây nguy cấp lắm, bỗng dưng trời nổi bão tố, thuyền Tây Sơn đắm cả, vua mới thoát vây. Hải lễ là nước ngọt ở bể; khi vua Gia Long đương phải chạy trốn ở ngoài bể, hết cả nước ngọt uống, vua mới khấn trời, chợt thấy ở dưới bể có dòng nước ngọt, múc nước uống mới khỏi khát.
  14.  Đây ví vua Gia Long cũng như vua Hán Cao Tổ và Hán Quang Vũ là hai ông vua sáng nghiệp trung hưng ở bên Tàu.
  15.  Đồn Bàn là kinh đô cũ của người Chiêm Thành, tức là thành Bình Định, Nam, Ngãi là Quảng Nam và Quảng Ngãi, Phú Xuân là Huế, Thăng Long là Hà Nội.
  16.  Là đạn nhiều như mưa, thang cao giáp mây.
  17.  Đây ví các thành tỉnh ấy cũng hiểm cố như đất Lũng là Lũng Tây (ở tỉnh Thiểm Tây) và đất Thục là Tứ Xuyên ở bên Tàu.
  18.  Điển cũ: Lời Tư Mã Thiên nói: "Người ta ai cũng chết mà cái chết có người nặng như núi Thái, cũng có người nhẹ như nắm lông hồng"
  19.  Điển cũ: Lời Mã Viện nói: "Đấng tài trai nên chết ở nơi chiến trận lấy da ngựa bọc thây"; ý nói chết ở chiến trường.
  20.  Là nói tối tăm mênh mang.
  21.  Là nơi đất khách quê người.
  22.  Là chỗ bến đò ngày xưa.
  23.  Đoản là ngắn, tu là dài, ý nói kẻ chết non người sống lâu.
  24.  Kim là người đời nay, người còn sống, cổ là người đời xưa, người đã chết.
  25.  Bóng bạch câu: Điển cũ: đời người thấm thoát như bóng ngựa trắng chạy qua cửa sổ thoáng mắt đã mất; ý nói số mệnh các tướng sĩ ngắn ngủi.
  26.  Phế phủ là buồng phổi và phủ tạng trong người.
  27.  Điển cũ: vua Đường Thái Tôn bên Tàu vẽ hình công thần treo ở Yên các (gác khói), vua Hán Minh Đế vẽ tranh công thần treo ở Vân đài (đài mây); ý nói tuy không được vinh dự như các bực công hầu danh tướng.
  28.  Có công được thêu tên vào cờ cân cờ thường.
  29.  Là ơn vua ví như mưa móc thấm nhuần.
  30.  Nói xe vua trở về; đây nói vua Gia Long khi đã lấy Bắc Hà rồi trở về Phú Xuân.
  31.  Là bốn tỉnh Quảng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi). Thuận Hóa, Nghệ An và Thanh Hóa.
  32.  Từ năm 1798 đến năm 1801.
  33.  Thủy là lúc đầu, chung là lúc cuối. Ý nói lúc hoạn nạn thì còn sống mà đến lúc thái bình thì đã thác rồi.
  34.  Theo chữ (can qua phủ định) việc đánh dẹp vừa yên.
  35.  Là vua Nghiêu vua Thuấn bên Tàu, hai đời vua thái bình sánh với đời vua Gia Long.
  36.  Là vua Thang vua Vũ hai đời vua thịnh trị bên Tàu sánh với đời vua Gia Long.
  37.  Máy trời đất xoay vần bí mật và thần diệu.
  38.  Ý nói: Nếu sống lại kiếp sau thì nên đến cửa dinh tiền quân mà nhận.
  39.  Ý nói: nếu có khôn thiêng thì nên phù hộ nhà vua được thái bình để ngôi vua (ngôi bảo tộ) truyền mãi đến muôn đời về sau.