LỜI GIỚI THIỆU

Website  honguyenquancong.com là kênh thông tin chính thức của dòng họ

Nguyễn Huế - Gia Định, là diễn đàn trao đổi giữa các chi họ Nguyễn trong

và ngoài nước. Ban quản trị Website mong muốn nhận được bài viết, hình

ảnh về các hoạt động của các chi họ để trang Web thêm phong phú, đa dạng.

Mọi thông tin xin gửi về địa chỉ Email: honguyenquancong@gmail.com hoặc

duyhung12258@gmail.com. 

GIỚI THIỆU LUẬN VĂN THẠC SĨ : "CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA DANH NHÂN NGUYỄN VĂN THÀNH (1758-1817)

Ban biên tập website: honguyenquancong.com

(Sưu tầm)

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆPCỦA NGUYỄN VĂN THÀNH (1758-1817) 

1.  Lý do chọn đề tài

Triều Nguyễn-triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam được xác lập và tồn tại hơn một thế kỷ trong bối cảnh lịch sử vô cùng phức tạp, đặc biệt là giai đoạn cuối thế kỷ XIX. Chính vì vậy, triều đại này thường nhận được cách đánh giá đồng nghĩa với những gì xấu xa, đáng bị nguyền rủa. Tuy nhiên, trong những thập niên trở lại đây, trên cơ sở nguồn tư liệu mới, cụ thể và khoa học. Đồng thời, với cách nhìn nhận công bằng và khách quan, các nhà nghiên cứu đã vượt qua “định kiến cũ” và bắt đầu nhìn nhận lại, đưa ra những đánh giá về vương triều này một cách thận trọng hơn. Từ đó đến nay, xu hướng nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến triều Nguyễn và các chúa Nguyễn đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên tất cả các khía cạnh lịch sử. Nhiều chương trình nghiên cứu hội thảo, đề tài khoa học, luận án, luận văn, bài nghiên cứu... được thực hiện với nhiều nội dung khác nhau đã góp phần làm sáng tỏ hơn về “công” và “tội” của vương triều này. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều vấn đề liên quan chưa được đào sâu nghiên cứu, đặc biệt là các nhân vật lịch sử thời Nguyễn.

Nhân vật lịch sử là sản phẩm của xã hội đương thời, cuộc đời và sự nghiệp của họ ít nhiều bị chi phối bởi bối cảnh và tình hình đất ở giai đoạn đó. Chính vì vậy, nghiên cứu về các danh nhân, nhân vật lịch sử sẽ góp phần cho chúng ta cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh của những vấn đề lịch sử lúc bấy giờ. Và trên thực tế, nhiều công trình đã được xuất bản, các hội thảo khoa học, luận văn... đề cập đến một số nhân vật, danh nhân dưới triều Nguyễn như: Phan Thanh Giản, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Trọng Hợp, Lê Văn Duyệt... đã được thực hiện. Nguyễn Văn Thành-một nhân vật được xem là “khai quốc công thần của vua Gia Long”, người đã góp phần hình thành và kiến thiết nên vương triều Nguyễn vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về nhân vật này trong thời gian qua chưa nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học. Chính vì vậy, việc làm rõ những vấn đề liên quan đến nhân vật Nguyễn Văn Thành sẽ góp phần cho chúng ta cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về quá trình “dựng nước” (kiến lập nên vương triều Nguyễn) cũng như những thành quả về “trị nước” (quản lý đất nước) và một số vấn đề liên quan đến vua Gia Long nói chung và triều Nguyễn nói riêng.

Nguyễn Văn Thành là danh tướng vào hàng số một của Nguyễn Ánh. Năm 1773, khi mới 15 tuổi ông đã theo cha phò tá chúa Nguyễn Phúc Thuần chống lại phong trào Tây Sơn. Sau khi cha mất, ông tiếp tục theo phò tá Nguyễn Ánh, giúp Nguyễn Ánh từ khi “đất không có một dãi” cho đến lúc làm chủ cả một đất nước rộng dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Sau khi thiên hạ đại định, năm 1802 vua Gia Long đã tin cẩn cử Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc Thành, một vùng đất rộng lớn tương ứng với Bắc Bộ ngày nay. Với quyền hành như một Phó vương, ông đã thực thi nhiều biện pháp nhằm ổn định tình hình Bắc Thành một cách hiệu quả. Góp phần rất lớn trong việc giúp vua Gia Long kiến thiết đất nước sau nhiều thế kỷ loạn ly. Đặc biệt, ông đã để lại dấu ấn đậm nét ở vùng đất Bắc Thành với việc cho xây dựng nhiều công trình văn hóa nổi tiếng như: Khuê Văn Các, chợ Đồng Xuân (1805), Cột cờ Hà Nội (1812)… Ông còn nổi tiếng với vai trò là Tổng tài biên soạn bộ Hoàng Việt luật lệ (bộ luật Gia Long) và là vị Tổng tài đầu tiên của Quốc sử quán triều Nguyễn. Nguyễn Văn Thành còn là tác giả của bài Văn tế tướng sỹ trận vong, một áng văn chương được xem là kiệt tác trong văn tế chữ Nôm của nước ta. Dù bất kỳ ở đâu và trên cương vị nào, Nguyễn Văn Thành luôn thể hiện là một vị quan đầy tài năng và đức độ. Trong số các nhân vật dưới thời vua Gia Long, hiếm có vị quan nào văn võ toàn tài như ông. Tuy nhiên, cuộc đời của Nguyễn Văn Thành lại có kết cục hết sức bi thảm, cái chết đầy oan khuất của Nguyễn Văn Thành đã để lại cho hậu thế những băn khoăn, trăn trở, muốn tìm một lời giải, trả lại cho ông sự công bằng.

Chính vì những lý do trên, chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Văn Thành (1758-1817)” để làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Liên quan đến nhân vật Nguyễn Văn Thành, một số tác giả với các đề tài nghiên cứu khác nhau đã đề cập đến cuộc đời, hành trạng và những đóng góp của ông trong công trình của mình. Tuy nhiên với mức độ, phạm vi và nội dung khác nhau.

- Đầu tiên phải kể đến các bộ sử của triều Nguyễn do Quốc sử quán biên soạn như: Đại Nam chính biên liệt truyện [70], Quốc triều chính biên toát yếu [71], Khâm định Việt sử thông giám cương mục [72], Đại Nam thực lục [73] và Quốc sử di biên [104], [105] của Phan Thúc Trực đều ghi chép tương đối cụ thể, đầy đủ về hành trạng, sự nghiệp của Nguyễn Văn Thành từ lúc ông theo chúa Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Ánh chống lại phong trào Tây Sơn, khôi phục vương quyền và xây dựng đất nước. Đây là những tư liệu quý, có tính xác thực cao để làm căn cứ trong quá trình nghiên cứu.

- Trước 1945: sử nhà Nguyễn không còn ghi chép, đề cập đến những vấn đề liên quan đến Nguyễn Văn Thành (trừ sự kiện vua Tự Đức ban sắc phong gia ân cho Nguyễn Văn Thành năm 1868). Đây là một khoảng trống lớn trong tư liệu nghiên cứu về ông. Cho đến năm 1916, tác giả Léopold Cadière là người đầu tiên có bài viết đề cập đến Nguyễn Văn Thành trong tác phẩm “Đất thần kinh”, in trong Những người bạn cố đô Huế [21]. Tuy nhiên, bài viết chỉ điểm qua hành trạng của Nguyễn Văn Thành và miếu Thạch thần tướng quân chứ chưa đưa ra nhận xét, đánh giá gì về nhân vật. Năm 1941, tác giả Nhật Nham có bài “Dẫn giải và chú thích bài văn tế trong lễ truy điệu trận vong tướng sĩ do Tiền quân Thành tổ chức” [58] in trong tạp chí Tri Tân số 23 ngày 14/11. Bài viết đã giới thiệu sơ lược về hành trạng của Nguyễn Văn Thành và ghi lại toàn bộ bài Văn tế tướng sĩ trận vong. Đồng thời, có chú thích một số địa danh, từ ngữ trong bài văn tế.

- Trong những năm từ 1945-1975: Sau năm 1945, một số tác giả bắt đầu có những nghiên cứu về Nguyễn Văn Thành, nhưng rất ít ỏi.

 Đầu tiên là bài viết của tác giả Nguyễn Triệu in trong tạp chí Tri Tân (1941-1946) với nhan đề “Tiền Quân Nguyễn Văn Thành (1757-1817)” [102]. Bài viết đề cập đến hành trạng của ông từ khi theo chúa Nguyễn Phúc Thuần cho đến lúc qua đời. Tuy nhiên, chỉ dừng lại ở việc ghi chép (theo Đại Nam thực lục Đại Nam liệt truyện) chứ chưa đưa ra nhận xét, đánh giá. Năm 1951, tác giả Đào Văn Hội cho xuất bản tác phẩm “Danh nhân nước nhà” [36]. Trong đó có đề cập một số vấn đề liên quan đến Nguyễn Văn Thành. Năm 1960, Phong Châu-Nguyễn Văn Phú sưu tầm và giới thiệu tập “Văn tế cổ và kim” [22] chép lại và chú thích bài Văn tế tướng sỹ trận vong của Nguyễn Văn Thành.

 Năm 1962, tác giả Phạm Quỳnh có bài “Tựa bài: Tế tướng sỹ văn của Tiền quân Nguyễn Văn Thành” trong sách Thượng văn chi tập. Bài viết đã đưa ra những đánh giá về giá trị của bài văn tế cũng như tư tưởng tác giả bài văn. Năm 1971, tác giả Tô Nam cho đăng bài Nguyên nhân vụ án Tiền quân Thành [53], đã đề cập đến cái chết của ông. Năm 1973, Hồng Liên Lê Xuân Giáo cho xuất bản tác phẩm Quốc sử di biên của Phan Thúc Trực [104]. Đây là cuốn sách được ghi chép khá đầy đủ về lịch sử triều Nguyễn, đặc biệt là dưới thời Gia Long. Trong đó có ghi chép về cuộc đời và hành trạng của Nguyễn Văn Thành.

- Từ 1975 đến nay: một số công trình đi sâu nghiên cứu những vấn đề liên quan trực tiếp đến Nguyễn Văn Thành như: Danh tướng Việt Nam trong lịch sử của Đỗ Đức Hùng [41]; Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của tác giả Nguyễn Q. Thắng [94]; Việt sử giai thoại của Nguyễn Khắc Thuần [98] và nhiều bài viết khác: [28], [30], [31],... đã khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của ông.

Về những vấn đề liên quan đến bộ luật Gia Long: năm 2004 và 2005, tác giả Huỳnh Công Bá có các tác phẩm: Mấy nhận xét về luật Hình sự dưới triều Nguyễn [4]; Hôn nhân và gia đình trong pháp luật triều Nguyễn [5]; Diện mạo bộ Hoàng Việt luật lệ của Tố Am Nguyễn Toại hay Nhà soạn luật triều Nguyễn của tác giả Nguyễn Đức Hùng [42]; Hoàng Việt luật lệ tham khảo luật nhà Thanh như thế nào của tác giả Nguyễn Phan Quang [65]; Quá trình hình thành Quốc sử quán triều Nguyễn của tác giả Nguyễn Hữu Tâm [85]; Lược khảo Hoàng Việt luật lệ của Nguyễn Q. Thắng [95]; Cổ luật Việt Nam: Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ của Viện Sử học [111]... Các tác phẩm trên đã bước đầu nghiên cứu và có những đánh giá về đóng góp của Nguyễn Văn Thành trong việc biên soạn bộ luật Gia Long và việc thành lập Quốc sử quán triều Nguyễn.

Nhóm tác phẩm: Chén rượu rót đầu ghềnh của Tiền quân Thành [3]; Vua Gia Long với quyết định chọn người kế nghiệp [81]; Các vụ án lớn trong lịch sử cổ cận đại Việt Nam [93]; Việt sử giai thoại [98]; Án Xưa Tích Cũ; Hai vụ án nổi tiếng của triều Nguyễn qua sách cổ [118]; Vì sao vua Gia Long giết hại công thần bậc nhất [120]… Các tác giả đã đi sâu lý giải nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông.

Bên cạnh đó, các tác phẩm: Địa chí Thăng Long-Hà Nội trong thư tịch Hán Nôm [55]; Hà Nội Xưa và Nay [78]; Tư liệu văn hiến Thăng Long-Hà Nội [106]; Hà Nội nghìn xưa [113]... và một số bài viết của các tác giả đã ít nhiều đề cập đến những đóng góp của ông đối với thủ đô Hà Nội trên lĩnh vực văn hóa.

Năm 2016, các tác giả Nguyễn Văn Đăng và Mai Văn Được có các bài viết: Nguyễn Văn Thành một danh nhân của quê hương Quảng Điền [30], Dấu tích danh nhân Nguyễn Văn Thành trên đất Thừa Thiên Huế [31]. Hai bài viết trên đã góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề về dòng họ, gia thế và những di tích liên quan đến Nguyễn Văn Thành còn lại hiện nay.

Đặc biệt vào năm 2013, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam phối hợp với Viện sử học tổ chức Hội thảo khoa học: Sự nghiệp của danh nhân Nguyễn Văn Thành với lịch sử dân tộc Việt Nam vào đầu thế kỷ XIX. Hội thảo đã tập hợp nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Văn Thành, với 3 nhóm vấn đề chính: Về hành trạng và sự nghiệp chính trị của Nguyễn Văn Thành; Những đóng góp của Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành trên các lĩnh vực văn hóa - lịch sử - giáo dục đối với Thăng Long và vùng đất Bắc Thành; đóng góp và cống hiến của Nguyễn Văn Thành trong việc ổn định đời sống xã hội và yên dân. Hội thảo đã đặt viên gạch đầu tiên cho những bước tiếp theo trong việc nghiên cứu về nhân vật Nguyễn Văn Thành. Tuy nhiên, Hội thảo lần này tập trung vào việc nghiên cứu về sự nghiệp của ông vào đầu thế kỷ XIX, những đóng góp của ông đối với vùng đất Bắc Thành. Vì vậy, vẫn còn nhiều vấn đề chưa được đào sâu nghiên cứu như: quê hương, dòng họ và gia thế của Nguyễn Văn Thành, sự nghiệp của ông vào cuối thế kỷ XVIII, những đóng góp của ông đối với vùng đất Thừa Thiên Huế, những di tích về ông còn lại trên cả nước...

Trong thời gian qua, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cấp đến cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Văn Thành. Nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu về nhân vật này một cách đầy đủ, có hệ thống. Tuy vậy, những công trình trên đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho chúng tôi khi thực hiện đề tài này.

3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục tiêu nghiên cứu: Thông qua việc thu thập, tổng hợp tư liệu nhằm góp phần làm rõ hơn về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Văn Thành. Đặc biệt là những vấn đề chưa được đào sâu nghiên cứu như: quê hương và gia thế của Nguyễn Văn Thành, sự nghiệp của ông trong giai đoạn cuối thế kỷ XVIII, những đóng góp của ông đối với vùng đất Thừa Thiên Huế, những di tích về ông còn lại trên cả nước... Qua đó, góp phần phổ biến về hành trạng và sự nghiệp của Nguyễn Văn Thành và có những hoạt động tri ân đối với ông.

- Nhiệm vụ nghiên cứu: luận văn có nhiệm vụ làm rõ bối cảnh lịch sử đất nước cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX; những vấn đề về quê hương, dòng họ và gia đình của Nguyễn Văn Thành; cuộc đời và sự nghiệp của ông.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: trong phạm vi của luận văn, chúng tôi tập trung nghiên cứu những vẫn đề sau: quê hương, gia thế, hành trạng và sự nghiệp của Nguyễn Văn Thành; vụ án của Nguyễn Văn Thành và một số di tích liên quan đến ông. Ngoài ra, để có cơ sở lý giải, đánh giá về nhân vật, luận văn sẽ đề cập đến một số nhân vật cùng thời, hoặc liên quan đến Nguyễn Văn Thành.

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Thời gian nghiên cứu: từ năm 1758 tới 1817. Tuy nhiên, để có cơ sở phân tích, luận giải vấn đề, luận văn sẽ mở rộng thời gian ngược về trước thời chúa Nguyễn Phúc Thuần và lùi về thời vua Tự Đức để có thể trình bày vấn đề một cách hệ thống hơn.

+ Không gian nghiên cứu: trên phạm vi cả nước, trong đó đi sâu nghiên cứu ở vùng đất Nam Bộ, nơi Nguyễn Văn Thành theo Nguyễn Ánh chống lại phong trào Tây Sơn; vùng đất Bắc Thành-Hà Nội, nơi Nguyễn Văn Thành làm quan 10 năm và Thừa Thiên Huế, kinh đô của triều Nguyễn, quê hương của ông và là cũng nơi ông làm quan cho đến cuối đời. Đặc biệt, đây còn lưu giữ nhiều dấu tích liên quan đến Nguyễn Văn Thành.

5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

- Phương pháp nghiên cứu: để thực hiện đề tài, chúng tôi dự trên nền tảng phương pháp luận duy vật lịch sử. Về phương pháp nghiên cứu, chúng tôi kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic để trình bày, phân tích, nhận định. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp chuyên ngành khoa học lịch sử như: điền dã, sưu tầm, xử lý tư liệu, phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp và so sánh, đối chiếu lịch sử. Trong quá trình xử lý tư liệu, tác giả chú trọng vào các tư liệu gốc. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khách quan, tác giả không thể tiếp cận được với một số tư liệu gốc mà phải trích dẫn lại, trong những trường hợp đó, tác giả  sẽ chỉ rõ nguồn gốc tư liệu.

- Nguồn tư liệu: để hoàn thành luận văn này, chúng tôi sử dụng một số nguồn tư liệu chính sau:

+ Tư liệu thư tịch gồm: Ô Châu cận lục của Dương Văn An, Đại Nam thực lục, Đại Nam chính biên liệt truyện, Quốc triều chính biên toát yếu của Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc sử di biên của Phan Thúc Trực... Đây là những tư liệu “gốc”, có nhiều thông tin cụ thể, quý giá có liên quan đến nội dung chúng tôi cần tìm hiểu.

+ Các công trình đã xuất bản có liên quan đến đề tài như: “Danh nhân nước nhà” của Đào Văn Hội, “Văn tế cổ và kim” của Phong Châu-Nguyễn Văn Phú, Danh tướng Việt Nam trong lịch sử của Đỗ Đức Hùng, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Q. Thắng, Việt sử giai thoại của Nguyễn Khắc Thuần, Lược khảo Hoàng Việt luật lệ của Nguyễn Q. Thắng, Cổ luật Việt Nam: Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ của Viện Sử học, Các vụ án lớn trong lịch sử cổ cận đại Việt Nam của Phạm Minh Thảo...

+ Bên cạnh đó, chúng tôi còn tham khảo một số nguồn tư liệu khác như: kỷ yếu Hội thảo khoa học, các bài viết trên các tạp chí chuyên nghành: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, tạp chí Huế Xưa và Nay, tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, tạp chí Tri Tân,... và các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp.

Ngoài ra, còn có tư liệu gia phả dòng họ và tư liệu thực địa của tác giả tại nhà thờ Nguyễn Quận công từ (phường Xuân Phú, thành phố Huế), họ Nguyễn làng Bác Vọng, huyện Quảng Điền, làng Dã Lê Thượng, thị xã Hương Thủy và nguồn tư liệu phong phú trên internet.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: luận văn sẽ góp phần tổng hợp và hệ thống hóa các tư liệu liên quan cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Văn Thành. Đồng thời, góp phần làm phong phong phú thêm nhóm đề tài nghiên cứu về nhân vật lịch sử.

- Ý nghĩa thực tiễn: luận văn sẽ góp làm rõ về cuộc đời và những đóng góp của Nguyễn Văn Thành, làm cơ sở để thực hiện những hoạt động tri ân đối với ông. Ngoài ra, luận văn sẽ là nguồn tư liệu cho những ai quan tâm tới nhân vật Nguyễn Văn Thành; là tư liệu để giáo dục truyền thống, phổ biến về công trạng của ông, làm cơ sở cho các đề án đặt tên đường, trên trường của các địa phương cũng như việc đề ra những giải pháp bảo tồn, phát huy những di tích liên quan đến Nguyễn Văn Thành còn lại hiện nay. Góp phần hạn chế những thiếu sót đáng tiếc trong quá trình di dời, xây dựng, tu bổ, tôn tạo những di tích liên quan đến ông.

7. Bố cục của luận văn

Luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính được chia làm 3 chương:

Chương 1: Quê hương và gia thế của Nguyễn Văn Thành

Chương 2: Bước đường làm quan của Nguyễn Văn Thành (1773-1817)

Chương 3. Những đóng góp của Nguyễn Văn Thành và cái chết của ông.

NỘI DUNG LUẬN VĂN

Chương 1.
QUÊ HƯƠNG VÀ GIA THẾ  CỦA NGUYỄN VĂN THÀNH

1.1. Vài nét về quê hương của Nguyễn Văn Thành

1.1.1. Khái quát về làng Bác Vọng: đặc điểm tự nhiên và lịch sử hình thành

Theo sử triều Nguyễn, Nguyễn Văn Thành vốn “người xã Bác Vọng, huyện Triệu Phong” [79, 326]. Đây là một trong 53 làng cổ thuộc huyện Đan Điền (sau này đổi gọi là huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế).

- Khái quát về đặc điểm tự nhiên:

Vị trí địa lý: Làng Bác Vọng hiện nay thuộc xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Làng nằm về phía Tây Nam của huyện. Diện tích đất thổ cư khoảng 25.000 ha, có hơn 400 hộ dân với khoảng 1.500 nhân khẩu. Phía Bắc giáp làng Xuân Tùy, phía Tây giáp làng Hạ Lang và Bao La, phía Đông giáp làng Nam Phù, phía Nam giáp sông Bồ. Với vị trí gần như nằm ở trung tâm xã Quảng Phú, cách Quốc lộ 1A khoảng 2km, thông qua các trục đường liên thôn, liên xã, từ làng Bác Vọng có thể dễ dàng tiếp cận với nhiều địa phương trong huyện và vùng lân cận như: phường Tứ Hạ (thị xã Hương Trà), thành phố Huế, An Lỗ (huyện Phong Điền)... Ngoài ra, có thể xuôi, ngược theo dòng sông Bồ để đến nhiều địa phương khác trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Với vị trí địa lý và hệ thống giao thông vô cùng thuận lợi đó, đã tạo điều kiện cho cư dân làng Bác Vọng trong việc giao lưu, buôn bán và phát triển kinh tế. Ngày nay, làng Bác Vọng được chia làm hai thôn là Bác Vọng Đông và Bác Vọng Tây.

Khí hậu, thời tiết: làng Bác Vọng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Thời tiết diễn ra theo chu kỳ 4 mùa: xuân, hạ thu, đông khá mát mẻ và thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 25°C.

Địa hình: Bác Vọng là một làng quê ở vùng đồng bằng trải dọc theo dòng sông Bồ, đây là một trong những con sông lớn của Thừa Thiên Huế, bắt nguồn từ vùng núi rừng Trường Sơn, ở độ cao 900 m, chảy theo hướng Đông Nam-Tây Bắc rồi đổ vào sông Hương ở ngã ba Sình. Nước sông Bồ vừa trong vừa sạch, có thể coi là con sông đẹp nhất trong huyện. Ngoài ra, sông Bồ còn được xem là “minh đường” của làng Bác Vọng. Tuy nhiên, theo thời gian nhánh sông chính và các chi lưu, phụ lưu của sông Bồ có sự biến đổi rất lớn. Chính sự phức tạp của dòng sông này đã tạo ra sự thay đổi về địa hình, cương thổ của làng Bác Vọng: “đầu thế kỷ XVII, đoạn sông Bồ chảy qua khu vực này có độ uống cong từ Tây sang Đông lên Bắc rất lớn, tạo nên một vòng cung hướng về phía Đông Nam, phần đất bên trong vòng cung là một dãi phù sa nổi do sông Bồ bồi đắp nên. Bên trong bãi phù sa ấy có cả một hệ thống kênh mương phong phú nối thông với nhau” [109, 127-128]. Chính vị trí địa lý vô cùng ưu việt này, nên tháng 12 năm Tân Mão (1712), chúa Nguyễn Phúc Chu đã quyết định dời phủ chúa từ Phú Xuân về Bác Vọng và xây dựng vùng đất này thành thủ phủ tồn tại trong suốt 26 năm.

- Lịch sử hình thành làng Bác Vọng

Lịch sử di dân khai canh lập làng của người Việt trên địa bàn huyện Đan Điền được xác định vào giữa thế kỷ XIV vào kéo dài trong suốt thế kỷ XV. Sau cuộc hôn nhân giữa Quốc vương Java Shimhavarman III (Chế Mân) và công chúa Huyền Trân (1036), hai châu Ô, Lý (Ulik) thuộc về Đại Việt. Năm sau, vua sai Ngự sử Trung tán Đoàn Nhữ Hài vào làm Hành khiển tuyên bố đức ý của nhà vua, đổi tên hai châu Ô, Lý thành châu Thuận và châu Hóa. Đến năm 1419, nhà Minh sắp xếp lại các huyện ở Hóa Châu, lúc này chỉ còn 3 huyện là Trà Kệ, Kim Trà và Sỹ Vinh. Trà Kệ chính là huyện Đan Điền- Quảng Điền sau này.

Sau kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, nhà Lê sắp xếp lại tổ chức bộ máy ở Thuận Hóa. Năm Quang Thuận thứ 10 (1469), vua Lê Thánh Tông cho đặt Thuận Hóa thừa tuyên gồm 2 phủ là Tân Bình và Triệu Phong. Phủ Triệu Phong có 6 huyện gồm: Đan Điền, Kim Trà, Hải Lăng, Võ Xương, Tư Vinh, Điện Bàn và 2 châu là Sa Bồn và Thuận Bình. Như vậy vào cuối thế kỷ XV, đơn vị hành chính huyện Đan Điền chính thức được thành lập.

Làng Bác Vọng thuộc địa phận huyện Đan Điền được thành lập vào khoảng cuối thế kỷ XV, “sau chiến dịch bình định Đồ Bàn năm 1471 của đại quân Việt do Lê Thánh Tông đích thân chỉ huy... khoảng 31 làng mới được thành lập... theo trục bờ Bắc sông Bồ là các làng Bái Đáp, Hà Cảng, Hạ Lang, Bác Vọng” [109, 09]. Bác Vọng là một làng quê yên bình trải dọc theo hạ lưu sông Bồ, dân cư chủ yếu bằng nghề đóng đăng bắt cá. Dưới thời nhà Mạc, toàn huyện Đan Điền có 52 xã, trong đó có xã Bác Vọng [1, 42].

Năm 1558, Đoan quận công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, đóng dinh ở Ái Tử (Quảng Trị). Nhiều người cùng quê đã tháp tùng theo chúa vào Nam, khai phá chiếm lĩnh những vùng đất mới, lập nên nhiều làng xã ở vùng Thuận Hóa. Đến năm Canh Ngọ (1670), Nguyễn Hoàng được giao kiêm lãnh trấn thủ Quảng Nam. Nhân dịp này đã sắp xếp lại hệ thống các phủ huyện ở Thuận Hóa, Quảng Nam. Lúc này, huyện Đan Điền được đổi tên thành Quảng Điền. Đến thế kỷ XVII, do quá trình di cư, nhập tịch của nhiều tầng lớp nhân dân nên vùng Thuận Hóa nói chung và huyện Quảng Điền nói riêng ngày một phồn vinh, dân cư sinh tụ đông đúc. Vì vậy, đã xuất hiện hiện tượng “kích làng, chuyển làng”. Một số làng lớn, dân số đông đã bắt đầu có sự phân chia thành các làng nhỏ, điển hình là xã Bác Vọng đã có sự chia tách, “hình thành các đơn vị mới như Bác Vọng Đông, Bác Vọng Tây” [109, 10]. Như vậy, đến lúc này làng Bác Vọng được chia làm 2 làng nhỏ và địa danh Bác Vọng Tây - quê hương của Nguyễn Văn Thành bắt đầu xuất hiện.

Ngoài ra, vào đầu thế kỷ XVIII một phần đất đai của làng Bác Vọng được các chúa Nguyễn sử dụng để dựng phủ. Đặc biệt, nhờ lập được công lớn nên dân làng Bác Vọng đã được chúa Nguyễn ban cho quyền cai quản một vùng rộng lớn mặt nước phá Tam Giang[1], với nguồn lợi thủy sản vô cùng phong phú. Từ đó, một bộ phận cư dân của làng đã xuôi theo dòng sông Bồ về cuối hạ lưu, ra vùng đất mới dọc “đầm Bác Vọng” để làm ăn sinh sống, lập nên hai ấp mới là Hà Đồ và Hà Lạc. Như vậy, ngoài hai giáp Đông, Tây, Bác Vọng còn có thêm hai ấp mới là Hà Đồ và Hà Lạc nên giai đoạn này, làng Bác Vọng được gọi là “Bác Vọng tứ giáp, ấp”.

Nửa sau thế kỷ XVIII, “huyện Quảng Điền gồm có 8 tổng 74 xã 7 thôn 7 phường” [109, 6]. Trong đó xã Bác Vọng Đông - Tây thuộc tổng Phú Ốc. Đầu thời Nguyễn, huyện Quảng Điền gồm có 9 tổng, trong đó tổng Phú Ốc gồm có 7 xã, 2 phường, 1 giáp gồm: Bác Vọng Đông, Bác Vọng, Bao La, Đại Lộc, Lai Hà, Phú Ốc, Thế Chí, các phường Bao La, Thủy Lập, Hà Lạc, giáp Thế Chí Đông [109, 44-45].

Sau khi vua Minh Mạng lên ngôi đã tiến hành cuộc cải cách hành chính, chia đặt lại các tỉnh trong cả nước. Năm 1834, các quan phủ doãn Thừa Thiên là Lê Văn Quý và Vương Hữu Quang dâng sớ xin vua chia đặt tỉnh Thừa Thiên làm 6 huyện, tùy theo hình thế sông núi và địa thế gần liền huyện nào thì phân phối lệ vào huyện ấy, năm 1835 vua chuẩn định lời tâu. Lúc này, toàn huyện Quảng Điền có 5 tổng với 58 xã, thôn, phường, giáp, ấp. Huyện lỵ đóng tại xã Bác Vọng.

Đến cuối thế kỷ XIX, thệ thống hành chính huyện Quảng Điền được ghi chép trong Đồng Khánh địa dư chí cụ thể như sau: huyện Quảng Điền gồm 5 tổng (Hạ Lang, Khuông Phò, An Thành, Phúc Yên, Thanh Cần), gồm 59 xã, thôn, ấp, giáp. Lúc này, xã Bác Vọng lại chia thành giáp Tây xã Bác Vọng (Bác Vọng Tây) và giáp Đông xã Bác Vọng (Bác Vọng Đông) thuộc tổng Hạ Lang [109, 9; 47]. Tình hình này tương đối ổn định cho đến năm 1956, Thủ hiến Trung Việt ra Nghị định số 711/NĐ-PC thành lập 7 quận mới, trong đó quận Quảng Điền gồm có 7 xã (Quảng Phú, Quảng Thọ, Quảng Lộc, Quảng Phước, Quảng Ngạn, Quảng Vinh, Quảng Lợi). Hai làng Bác Vọng Đông và Bác Vọng Tây thuộc xã Quảng Phú. Từ đó đến nay, qua nhiều lần tách, nhập, thay đổi địa danh, địa giới hành chính, hai thôn Bác Vọng Đông và Bác Vọng Tây vẫn thuộc xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền.

Như vậy, có thể khẳng định rằng làng Bác Vọng - quê hương của Nguyễn Văn Thành là đơn vị hành chính thuộc huyện Đan Điền, phủ Triệu Phong, tỉnh Thừa Thiên dưới thời nhà Nguyễn (sau này là huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế). Địa danh Bác Vọng chính thức xuất hiện từ thế kỷ XV. Đến nửa sau thế kỷ XVII, sau gần 200 năm hình thành và phát triển, điền thổ cùng dân cư của Bác Vọng tiếp tục phát triển men theo sự bồi tụ phù sa của bờ Bắc sông Bồ, nên làng Bác Vọng được tách ra thành 2 làng nhỏ Bác Vọng Đông và Bác Vọng Tây. Ngoài ra, một bộ phận dân cư của làng đã di dân lập thêm hai ấp mới là Hà Đồ và Hà Lạc. Làng Bác Vọng lúc này có “tứ giáp, ấp”. Cuộc sống của người dân tương đối ổn định với hoạt động kinh tế chủ yếu là đánh bắt cá trên đầm phá và sau này có thêm sản xuất nông nghiệp. Mặc dù có những giai đoạn đổi gọi là xã hoặc giáp (Bác Vọng Đông, Bác Vọng Tây xã - giáp), nhưng về cơ bản tên gọi các làng này vẫn tồn tại từ nửa sau thế kỷ XVII cho đến ngày nay và vẫn thuộc địa phận huyện Quảng Điền.

Quảng Điền là huyện nằm ở Bắc Thừa Thiên Huế, phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Phong Điền, phía Nam giáp thị xã Hương Trà và thành phố Huế, phía Đông nhìn ra biển, trên địa thế phía Bắc lưu vực sông Bồ và phía Tây phá Tam Giang. Đây từng là khu vực trọng yếu của vương quốc Chămpa ở cực Bắc. Sau khi sát nhập vào lãnh thổ Đại Việt, vùng đất này tiếp tục trở thành trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa của châu Hóa. Vào giữa thế kỷ XV, Dương Văn An ca ngợi vùng đất Quảng Điền như sau: “.... thành Hóa Châu dài đến cửa sông, có những hoa thôn lục dã đất rộng dân đông, Hợi Thị, Ngọ Kiều người sang của báu, đều rải rác phía Nam và phía Bắc sông ấy” [109, 167]. Quảng Điền từng được các chúa Nguyễn hai lần chọn làm thủ phủ trên con đường mở đất về phương Nam, là phủ Phước Yên (1626-1636) và phủ Bác Vọng (1712-1738). Địa linh luôn gắn liền với nhân kiệt. Quảng Điền qua các đời luôn xuất hiện các bậc anh hào, tiêu biểu như: danh tướng Đặng Tất, Đặng Dung đời Hậu Trần. Đời Lê có Cao Bách Tuế, Phan Tử Linh. Đặc biệt dưới thời Nguyễn, Quảng Điền có đến 14 vị được ghi tên họ, tiểu sử và công trạng vào sách Đại Nam nhất thống chí (phần về phủ Thừa Thiên), tiêu biểu có: Nguyễn Văn Thành, Thân Văn Quyền, Đặng Văn Thiêm... Cùng nhiều Nho sỹ đỗ đạt, những vị quan liêm khiết nổi tiếng như: Trần Thúc Nhẫn, Đặng Hữu Phổ, Cao Đăng Đệ, Ngô Thế Lân... gắn với những làng quê văn vật với câu ca “nhất Huế nhì Sịa”. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Quảng Điền có 02 nhân vật nổi tiếng là nhà thơ Tố Hữu - con chim đầu đàn của thơ ca cách mạng Việt Nam và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - người chiến sỹ cách mạng có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh chống Mỹ cứu nước của dân tộc.

Cùng với Đan Điền - Quảng Điền, Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế trở thành vùng đất dựng nghiệp của các chúa Nguyễn và vua Nguyễn kéo dài hơn 4 thế kỷ. Đặc biệt từ trở thành kinh đô của triều Nguyễn, Huế là nơi hội tụ và kết tinh các giá trị văn hóa của dân tộc. Nơi đây quy tụ nhiều Nho sỹ, hiền tài của cả nước ra làm quan dưới triều Nguyễn, trong đó có người con của quê hương Bác Vọng là Nguyễn Văn Thành. Chính đội ngũ quan liêu và những yếu tố văn hóa cung đình hòa trộn với văn hóa dân gian tồn tại hàng trăm năm trên đất Huế đã tạo nên nét đặc trưng trong văn hóa, tính cách của người dân xứ cố đô.1.1.2. Dân cư và truyền thống văn hóa

- Về dân cư

 Vào cuối thế kỷ XV, cùng với sự hình thành của một số làng xã dọc bờ Bắc sông Bồ (huyện Quảng Điền) như: Bái Đáp[2], Hạ Lang, Bao La, Niêm Phò, Lương Cổ, Nam Phù, La Vân... địa danh Bác Vọng cũng bắt đầu xuất hiện. Trong giai đoạn này, dân cư đến vùng Thuận Hóa nói chung và Quảng Điền nói riêng đông đảo hơn trước và cơ bản qua hai con đường chính. Con đường thứ nhất là đường bộ, đi theo “đường cái quan”. Con đường thứ hai là đường thủy, bằng cách men theo các con sông hoặc đi vào các cửa biển. Cư dân đến định cư lập làng ở làng Bác Vọng được cho đi bằng con đường thứ hai là chủ yếu. Vào giai đoạn này, phá Tam Giang còn rất sâu và rộng, kéo dài đến tận Quảng Bình. Ngoài ra, sông Bồ vào các thế kỷ trước khi xuống hạ lưu có nhiều nhánh sông tỏa ra chằng chịt nối thông với phá Tam Giang. Như vậy, có thể phát họa con đường di cư lập làng ở Bác Vọng như sau: một bộ phận dân cư từ miền Bắc, có thể là vùng Thanh, Nghệ men theo các con sông, phá Tam Giang đi vào Nam. Tại các cửa sông (Bồ) thông nhau với phá, người ta đi ngược lên và quy tụ tại các vùng đất bằng phẳng ven sông, lập nên các làng xã, trong đó có làng Bác Vọng [127]. Thành phần dân cư đến lập làng ở Bác Vọng chủ yếu là “quan quân Nam chinh và nhân dân lưu tán trong chiến tranh” [109, 14]. Cư dân làng Bác Vọng rất giỏi về nghề thủy, đặc biệt là nghề đăng sáo[3]. Trong Ô châu cận lục, Dương Văn An đã miêu tả: “Bác Vọng bắt cá thì chắn đăng” [1, 46]. Trong số các làng xã được hình thành cùng thời với làng Bác Vọng dọc bờ sông Bồ ở huyện Quảng Điền, chỉ có duy nhất cư dân Bác Vọng là sống dựa vào nghề đánh bắt cá trên đầm phá. Nhờ giỏi nghề sông nước mà sau này, nhiều người dân của làng Bác Vọng được tuyển vào đội thủy quân của chúa Nguyễn với hai đội quân là Bác Vọng nhất thuyền và Bác Vọng nhị thuyền [127]. Sau khi thành lập thêm hai làng mới là Hà Đồ và Hà Lạc, cư dân ở đây vẫn tiếp tục phát triển nghề đăng sáo trên đầm phá. Tuy nhiên vào giai đoạn sau, người dân ở Bác vọng đã bỏ nghề sông nước và chuyển sang làm nông nghiệp.

- Về truyền thống văn hóa

Là một vùng đất được hình thành và xác lập trong một thời gian dài, cùng với quá trình hình thành quốc gia dân tộc thống nhất Việt Nam. Đồng thời, từng là đất của Chăm Pa, sau đó là  Đại Việt, chính vị trí lịch sử đã làm cho Bác Vọng - Quảng Điền - Thừa Thiên Huế trở thành một vùng đất văn vật. Bác Vọng là địa phương duy nhất của xã Quảng Phú và huyện Quảng Điền có 2 di tích được xếp hạng. Trong đó có một di tích được công nhận là cấp tỉnh (chùa Thiện Khánh) và một di tích cấp quốc gia (miếu mộ Đặng Hữu Phổ). Ngoài ra, hiện nay làng Bác Vọng còn lưu giữ rất nhiều sắc phong của các đời vua Nguyễn. Đặc biệt, trong hơn 200 năm kiến tạo xứ Đàng Trong, các chúa Nguyễn đã dời dựng thủ phủ qua 8 địa điểm, trừ 3 thủ phủ ban đầu đóng tại bờ sông Thạch Hãn (Quảng Trị), 5 phủ còn lại đều đóng trên địa bàn Thừa Thiên Huế bên bờ sông Hương và sông Bồ. Riêng huyện Quảng Điền từng được các chúa Nguyễn 2 lần chọn làm thủ phủ. Thủ phủ đầu tiên là phủ Phước Yên, tồn tại trong 10 năm (1626-1636). Gần 100 năm sau, vào năm 1712 chúa Nguyễn Phúc Chu đã quyết định dời thủ phủ của Đàng Trong từ Phú Xuân về Bác Vọng, tồn tại suốt 26 năm (1712-1738). Trong thời gian đóng đô tại Bác Vọng, các chúa Nguyễn đã xây dựng ở đây các công trình phòng thủ cũng như hệ thống dinh thự, chùa chiền... phục vụ đời sống và nhu cầu tâm linh của tầng lớp quan lại. Ngày nay, ở thôn Bác Vọng Tây - quê hương của Nguyễn Văn Thành còn tồn tại một số di tích, địa danh liên quan đến thủ phủ Bác Vọng như: chùa Thiện Khánh, Ao phủ, Ao Phủ Xứ, Tàu Tượng, Ba Trại... Trong đó, chùa Thiện Khánh đã dược công nhận là di tích cấp tỉnh.

Làng Bác Vọng còn là nơi xuất thân của nhiều bậc anh tài, nghĩa dũng có nhiều đóng góp cho dân tộc, tiêu biểu như: Đặng Tất, Đặng Dung là tướng giỏi triều Hậu Trần. Theo giúp Trần Giản Định và Trần Quý Khoáng, lừng danh qua các trận đánh chống quân Minh xâm lược ở Bô Cô, Thái Cảng. Thự Văn Minh điện Đại học sỹ Đặng Văn Thiêm là Thượng thư của 5 bộ dưới triều Nguyễn. Đây là những vị tướng, Nho sĩ tài ba góp phần hình thành nên khí phách, truyền thống anh dũng của con người Quảng Điền nói chung và Bác Vọng nói riêng. Đặc biệt, làng Bác Vọng còn lưu truyền một câu chuyện về Bà Tơ và “trộ bã mía”. Bà Tơ là người phụ nữ họ Trần, ở làng Bác Vọng, làm nghề chài lưới trên sông thoát đã có công cứu chúa Nguyễn thoát hiểm. Tương truyền, trong một trận quyết chiến giữa quân Trịnh với chúa Nguyễn tại giang phận Phú Lễ (gần làng Bác Vọng) vào cuối năm 1774, quân của chúa Nguyễn bị yếu thế phải rút lui. Khi thuyền đang đi thì bị đứt quai chèo, trong lúc nguy cấp bà đã dâng lên mớ tơ để quan quân bện lại quai chèo, nhờ vậy đã tránh được sự truy đuổi của quân Trịnh. Để tưởng nhớ công lao của bà, chúa Nguyễn đã cho dân làng Bác Vọng cai quản mặt nước rộng lớn ở phá Tam Giang. Ngày nay, ngôi miếu thờ bà Tơ vẫn còn ở làng Bác Vọng. Hàng năm, dân làng Bác Vọng vẫn tổ chức giỗ bà và lễ hội đua thuyền trên sông Bồ như một nét văn hóa truyền thống của địa phương.

Có lẽ, trong thời gian đóng đô ở Bác Vọng và Phước Yên (một làng gần với làng Bác Vọng), các chúa Nguyễn đã để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp của một vị minh chúa. Cho nên mặc dù đã dời vào Nam sinh sống từ lâu, tổ tiên của Nguyễn Văn Thành vẫn luôn hướng vọng về các chúa và quê hương Bác Vọng của mình, nhắc nhở con cháu phải tưởng nhớ các bậc tiền nhân. Đặc biệt, khi biết chúa Nguyễn Phúc Thuần đang chống lại quân Tây Sơn, cha con Nguyễn Văn Thành đã quy tụ nghĩa dũng đi theo phò tá.

 Dưới triều Nguyễn, nhiều người con của Quảng Điền nói chung và làng Bác Vọng nói riêng đã đỗ đạt và thành danh. Đặc biệt, trong số 26 vị Tiến sỹ của đất Thừa Thiên Huế được khắc tên bia Tiến sỹ ở Văn Miếu Quốc Tử giám Huế, Quảng Điền có đến 05 vị[4]. Ngoài ra, còn có 8 vị Phó bảng[5] khác đỗ đạt dưới triều Nguyễn. Đặc biệt, vào cuối thế kỷ XIX, những người con ưu tú của làng Bác Vọng đã theo lời hiệu triệu của vua Hàm Nghi đứng lên chống Pháp, tiêu biểu là cha con phò mã Đặng Huy Cát và Đặng Hữu Phổ. Hai cha con ông đã đứng lên lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp ở hai huyện Hương Trà và Quảng Điền. Lúc đầu chỉ là tập hợp nghĩa sỹ để ngăn chặn việc bắt lính của Nam triều, sau đó dẫn nghĩa quân tập kết vào nha huyện Quảng Điền, phá nhà ngục, thả tất cả tù phạm... Tuy nhiên, do lực lượng còn yếu nên phong trào đã sớm bị đàn áp. Hai cha con Đặng Huy Cát bị bắt, Đặng Huy Cát bị “trảm hậu giam” còn Đặng Hữu Phổ bị xử chém ngay tại bến đò Quai Vạc - làng Bác Vọng quê hương ông. Mặc dù phong trào bị thất bại nhưng đã thể hiện tinh thần yêu nước và ý chí kiên cường, bất khuất của những người con làng Bác Vọng, tiếp nối truyền thống anh dũng, khí phách hiên ngang của các bậc tiền nhân. Ngày nay, mộ và miếu thờ nghĩa sỹ Đặng Hữu Phổ vẫn được dân làng Bác Vọng giữ gìn thờ phụng và đã được công nhận là di tích cấp quốc gia.

Mặc dù không sinh ra và lớn lên trên quê hương Quảng Điền, nhưng truyền thống, nét đẹp văn hóa của quê hương được hun đúc qua hàng nghìn năm, thông qua nhiều hình thức và mức độ khác nhau đều có ảnh hưởng ít nhiều đến nhân cách và tài năng của Nguyễn Văn Thành.

1.2. Gia thế của Nguyễn Văn Thành

1.2.1. Dòng họ

Họ Nguyễn làng Bác Vọng Tây, xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền

Nguyễn Văn Thành quê gốc ở giáp Tây, xã Bác Vọng, tổng Phú Ốc, huyện Quảng Điền, phủ Triệu Phong (nay là làng Bác Vọng Tây, xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế). Tuy nhiên, sau những biến cố xảy ra trong gia đình Nguyễn Văn Thành, những người trong dòng họ Nguyễn ở làng Bác Vọng sợ bị liên lụy nên không nhận cùng họ với ông. Ngoài ra, để tránh bị triều đình phát hiện có quan hệ thân tộc với Nguyễn Văn Thành, họ Nguyễn đã đốt hết tộc phả. Con cháu cũng thay tên đổi họ và đi tứ toán khắp nơi.

Trong thời gian trước khi được vua Tự Đức minh oan, người trong họ cũng chỉ dùng họ Nguyễn chứ không lấy chữ “Văn” làm chứ lót [7, 297], [31, 102], [126], [127]. Chính vì vậy, lịch sử hình thành dòng họ Nguyễn ở làng Bác Vọng cũng như phái nào sinh ra Nguyễn Văn Thành không còn ai biết, chỉ biết rằng: “họ Nguyễn làng Bác Vọng đã xuất hiện trước khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ ở Thuận Hóa (1858), có thể từ thời Trần Nhân Tông không chừng” [7, 297]. Theo các vị cao niên ở địa phương, làng Bác Vọng Tây có “lục tộc khai canh, nhị tộc khai khẩn” thì họ Nguyễn là một trong 6 họ khai canh của làng. Ngày nay, cùng với họ Trương và họ Hoàng, họ Nguyễn là một trong những họ có số lượng dân đinh đông nhất ở làng Bác Vọng Tây [126], [127].

Sau khi vua Tự Đức ban chiếu minh oan cho Nguyễn Văn Thành, con cháu trong họ mới dần quy tụ lại. Hiện nay, họ Nguyễn ở làng Bác Vọng Tây có 5 phái. Tuy nhiên, gia phả của các phái này cũng chỉ viết từ đời ngang hàng với đời của Nguyễn Văn Tính (ông cố của Nguyễn Văn Thành). Còn giai đoạn trước đó thì không còn ai biết. Do tộc phả không còn, nên các cụ trong họ nếu gặp nhau thì chỉ gọi nhau là “chú” chứ không phân biệt được ai vai lớn, ai vai nhỏ và thứ tự các chi, phái. Vì vậy, dòng dõi của Nguyễn Văn Thành (tính từ đời ông Nguyễn Văn Tính) được xem là một phái của họ Nguyễn ở làng Bác Vọng Tây. Ngoài 5 phái hiện có, họ Nguyễn còn có một phái khác ở làng Lai Hà (xã Quảng Thái, huyện Quảng Điền). Tuy nhiên, cũng chỉ biết đây là một phái tách ra từ họ Nguyễn làng Bác Vọng Tây, còn thời gian tách đi từ khi nào và lý do vì sao thì cũng không ai biết [126].

Ngày nay, tại nhà thờ họ Nguyễn, có khắc lưu hai câu đối nói về công lao và đóng góp của họ Nguyễn nói chung và Nguyễn Văn Thành nói riêng đối với quê hương, đất nước:

Dựng làng danh vẫn nhớ

Giữ nước công còn ghi.

- Họ Nguyễn phái Nguyễn Văn Thành

Mặc dù quê gốc của Nguyễn Văn Thành ở xã Bác Vọng, huyện Quảng Điền nhưng tổ tiên ông lại nhiều lần thay đổi nơi sinh sống. Đến đời Nguyễn Văn Thành, giai đoạn đầu theo Nguyễn Ánh củng cố và xây dựng lực lượng ở Gia Định. Sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi, ông được cử làm Tổng trấn Bắc Thành, sống và làm việc ở đây 10 năm. Năm 1810, ông được triệu về làm quan ở kinh đô Huế cho đến cuối đời. Do quá trình di cư nhiều lần và đặc biệt là sau vụ án văn chương (1815) và sự biến thành Phiên An (1833), con cháu của ông thất tán, lưu lạc khắp nơi. Hiện nay, con cháu họ Nguyễn thuộc phái Nguyễn Văn Thành có mặt khắp cả 3 miền Bắc - Trung - Nam và đã lập nên nhiều chi họ.

Họ Nguyễn phái Nguyễn Văn Thành tính từ ông cố của Nguyễn Văn Thành, gồm các đời sau:

- Đời thứ nhất: [Nguyễn Văn] Toán

- Đời thứ hai: [Nguyễn Văn] Tính

- Đời thứ ba: Nguyễn Văn Hiền (? - 1775)

- Đời thứ tư: Nguyễn Văn Thành (1758-1817)

Từ đời của Nguyễn Văn Thành trở đi, phái này chia thành nhiều chi họ khác nhau. Đại diện cho 3 miền Bắc - Trung - Nam có các chi họ sau:

- Ở Huế: đây là hậu duệ của Nguyễn Văn Nhậm (Thậm) gồm có các đời sau: Nguyễn Văn Thành - Nguyễn Văn Nhậm (Thậm) - Nguyễn Văn Loại (Chơn) - Nguyễn Văn Lưu - Nguyễn Văn Túc - Nguyễn Văn Trai - Nguyễn Văn Thuận [7, 307], [31, 105], [54], [125].

 Hiện nay, chi này có từ đường Nguyễn Quận công từ tại phường Xuân Phú, thành phố Huế. Theo lời kể của con cháu trong gia đình, nguyên nhà thờ họ Nguyễn ở làng Bác Vọng, sau đó dời vào Huế xây kiểu nhà rường một gian hai chái trên thửa đất do trưởng nữ của Nguyễn Văn Thành là bà Nguyễn Thị Viện cúng cho bên ngoại. Sau đó, từ đường được trùng tu 2 lần, vào năm 1956 và năm 1993. Hiện nay, từ đường là nơi thờ tự Nguyễn Văn Thành và thân sinh của ông cùng con cháu trong phái. Đồng thời, cũng là nơi lưu giữ sắc phong gia ân của vua Tự Đức ban cho Nguyễn Văn Thành. Hàng năm, vào ngày 10 tháng 5 Âm lịch, con cháu các chi họ thuộc phái này trên khắp cả nước đều tề tựu về đây để giỗ ông [7, 305-307], [128].

- Ở Gia Định (thành phố Hồ Chí Minh): đây là hậu duệ của Nguyễn Văn Hàm, gồm các đời sau: Nguyễn Văn Thành - Nguyễn Văn Hàm - Nguyễn Văn Ngươn (Chánh) - Nguyễn Văn Bành - Nguyễn Văn Báu.

Ông Nguyễn Văn Báu (đời thứ 8) sinh được 5 người con: Nguyễn Văn Thông, Nguyễn Thị Lục, Nguyễn Thị Danh, Nguyễn Quyền Báu và Nguyễn Minh Cảnh

Ông Nguyễn Quyền Báu (đời thứ 9) sinh được các con: Nguyễn Quyền Tài, Nguyễn Quyền Quới và Nguyễn Quyền Thọ (đời thứ 10).

Ông Nguyễn Minh Cảnh (đời thứ 9) sinh được ông Nguyễn Minh Châu (đời thứ 10).

Chi này hiện có từ đường là đình Thái Hưng (Quận 1, Tp Hồ Chí Minh). Đình Thái Hưng do ông Nguyễn Văn Bành mua đất và xây vào năm 1920. Sau khi xây xong, ông Bành đã hiến cho bá tánh địa phương để thờ chung trong cộng đồng dân cư. Hiện nay, trong đình có thờ bài vị ghi tên Quận Công Nguyễn Văn Thành [7, 257; 302-303], [125].

- Ở Thái Bình, Hưng Yên: đây là hậu duệ của Nguyễn Văn Thuyên, gồm các đời sau: Nguyễn Văn Thành - Nguyễn Văn Thuyên - Nguyễn Duy Tiên.

Ông Nguyễn Duy Tiên (đời thứ 6) sinh được 2 người con gồm: Nguyễn Hữu (Ngọc) Tích và Nguyễn Hán Trác.

Ông Nguyễn Hữu Tích (đời thứ 7) lại sinh được 5 người con trai: Nguyễn Duy Hiển, Nguyễn Duy Đĩnh,  Nguyễn Duy Tuyên và Nguyễn Duy Hiên

Ông Nguyễn Hán Trác (đời thứ 7) sinh được các con: Nguyễn Tự Đức, Nguyễn Tự Huy, Nguyễn Trọng Tuấn, Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Duy Nhạc và  Nguyễn Duy Thiệu.

Ông Nguyễn Tự Huy (con ông Nguyễn Hán Trác, đời thứ 8) hạ sinh: Nguyễn Tự Tân, Nguyễn Duy Hiền, Nguyễn Trọng Phụng, Nguyễn Trọng Hậu, Nguyễn Duy Hưng.

Ông  Nguyễn Tự Tân (con ông Nguyễn Tự Huy, đời thứ 8) sinh được Nguyễn Văn Phúc[6]. Chi này hiện nay có từ đường được xây dựng vào năm 2003 tại Quỳnh Phụ, Thái Bình [7, 291; 312-326], [125].

Hiện nay, con cháu trong phái Nguyễn Văn Thành ở khắp các tỉnh, thành trong cả nước. Ngôi từ đường Nguyễn quận công từ ở Huế được xem  là nhà thờ chính của phái này. Hàng năm, vào dịp ngày giỗ của Nguyễn Văn Thành, con cháu khắp nơi tề tựu về đây như một chuyến hành hương về quê cha đất tổ. Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau nên các chi họ trong phái Nguyễn Văn Thành đã không lưu giữ được gia phả của các đời trước. Việc viết gia phả các đời sau này cũng chưa được quan tâm nhiều. Chính vì vậy, việc tìm hiểu về dòng họ, gia thế của Nguyễn Văn Thành và xác định vị thứ các chi họ vẫn chưa thật sự rõ ràng.

1.2.2. Gia đình

- Tiểu sử Nguyễn Văn Thành

Ngày 13 tháng 11 năm Mậu Dần, Nguyễn Văn Thành cất tiếng khóc chào đời tại Gia Định, trong một gia đình có truyền thống văn hóa và tinh thần hiếu học. Là con duy nhất trong nhà, nên Nguyễn Văn Thành được cha mẹ hết lòng yêu thương, chăm sóc. Thuở nhỏ, ông là người có “trạng mạo đẹp đẽ, tính trầm nghi, thích đọc sách, tài võ nghệ” [70, 368]. Nguyễn Văn Thành được gia đình cho ăn học chu tất khi lớn lên, ông là người “thông sách vở và hiểu phép chính trị”,“nhiều mưu lược” [71, 25; 66]. Năm 1773, khi mới 15 tuổi, cậu bé Nguyễn Văn Thành đã theo cha “lo việc binh đao” phò tá chúa đánh Tây Sơn. Sau khi cha mất, ông tiếp tục theo Nguyễn Ánh và lập được nhiều chiến công, trở thành vị tướng số một của Nguyễn Ánh. Năm 1802, sau khi làm chủ Bắc Thành, Gia Long cử Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn với lời dụ rằng “việc Bắc Thành giao cho ngươi cả”. Với quyền lực như một Phó vương, Nguyễn Văn Thành đã thực thi nhiều chính sách phù hợp góp phần ổn định tình hình một nữa đất nước sau nhiều thế kỷ loạn ly. Trước hết, ông chiêu tập dân xiêu tán về quê, chia lại ruộng đất để người dân làm ăn sinh sống, chăm lo tu sửa đê điều, tiến hành khai hoang, mở rộng sản xuất. Đồng thời, chiêu dụ và hậu đãi đối với Nho sỹ, hào kiệt Bắc Hà. Ông còn ra sức chấn hưng việc học, thi cử; chấn chỉnh bộ máy và phong tục làng xã; bảo vệ biên giới phía Bắc; cho xây dựng nhiều công trình nổi tiếng như: Khuê Văn Các, Kỳ Đài, chợ Đồng Xuân ở kinh thành Thăng Long... Năm 1810, ông được triệu về Kinh giữ chức Trung quân. Năm sau, được vua Gia Long sung làm Tổng tài biên soạn bộ Hoàng Việt luật lệ và giữ chức Tổng tài của Sử cục. Năm 1815, xảy ra vụ án văn chương do con trai ông là phò mã Nguyễn Văn Thuyên gây ra khiến ông bị liên lụy. Ngày 11 tháng 5 năm Đinh Sửu, Nguyễn Văn Thành uống thuốc độc tự tử để giữ đạo “tôi trung”. Năm 1833, con trai ông (Nguyễn Văn Hàm) theo Lê Văn Khôi nổi dậy chiếm thành Phiên An, bị vua Minh Mạng sai “bắt cả thân thuộc lũ con Thành đều phải tội chết”. Hơn 30 năm sau cái chết oan khuất của ông, năm Tự Đức thứ nhất (1848), Đông Các Đại học sỹ Vũ Xuân Cẩn đã dâng sớ xin “truy xét công trạng của Thành”. Đến năm 1868, vua Tự Đức “ban chiếu rửa tội” cho ông.

-  Thân sinh của Nguyễn Văn Thành

Cha ông là Nguyễn Văn Hiền (? - 1775) là người khảng khái đảm lược, đã đem hương dũng đi theo Tống Phước Hợp và Nguyễn Khoa Thuyên phò tá chúa Nguyễn Phúc Thuần chống lại Tây Sơn và được trao chức Cai đội. Trong trận giao tranh giữa quân Nguyễn và quân Tây Sơn ở Phan Rang, ông đã dẫn bộ binh đánh tan quân Tây Sơn. Sau đó tiến quân đến Bình Khang, gặp lúc Tống Phước Hợp đánh nhau với quân Tây Sơn, nhưng vì yếu thế nên phải rút lui về giữ Nha Trang. Còn Nguyễn Văn Hiền tiếp túc tiến đến hòn Tam Sơn, cố sức đánh và bị chết trận, được tặng chúa tặng chức Cai cơ. Đến thời vua Gia Long, ông được truy tặng Đặc tấn Tráng võ phụ quốc Thượng tướng quân Cẩm y vệ, Chưởng Vệ sự Chưởng doanh Hiền Đức hầu [54], liệt thờ ở “đền Hiển trung và miếu Trung tiết công thần, cấp phu coi mộ” [70, 368]. Mộ ông được táng tại thôn Suối Nước, phủ Hà Bạc, tỉnh Bình Hòa [54].

 Mẹ ông là bà Trần Thị Đàn (1740-1809), quê ở thôn Bình Long, tổng Tân Phong, huyện Tân Long, phủ Tân Bình, trấn Phiên An, tỉnh Gia Định [54]. Là người hiền thục, nết na, hết lòng thương yêu chăm sóc chồng con. Trong thời gian hai cha con Nguyễn Văn Thành theo phò tá chúa Nguyễn đánh nhau với quân Tây Sơn, bà vẫn sống tại quê nhà. Đến lúc thiên hạ đại định, Nguyễn Văn Thành lãnh chức Tổng trấn Bắc Thành đã đón bà ra Bắc cùng đoàn tụ. Năm 1809, bà qua đời tại Bắc Thành, thọ 69 tuổi. Linh cữu bà được đưa về Huế và an táng tại xứ Đá Bạc, xã Kim Sơn, huyện Hương Thủy, phủ Thừa Thiên [54]. Mộ bà được xây bằng đá núi với vôi hồ ô đước (vôi trộn nước và mật mía), có hai vòng thành hình bán nguyệt, nấm ở giữa hình voi phục (hay voi mẹp). Hiện nay ngôi mộ vẫn còn ở vùng Châu Ê-Kim Sơn (xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy).

-  Vợ và các con của Nguyễn Văn Thành

Theo nội dung tấm bia hậu tại mộ Nguyễn Văn Thành được lập năm 1817, ông có 13 người vợ và 19 người con:

 Bà chánh thất của ngài là cố Trịnh Thị Sáu, sinh nữ là Viên. Bà kế thất là Võ Thị Hòa, sinh nam là Huỳnh, sinh nữ là Thanh. Bà trắc thất Võ Thị Lợi sinh nam là Tư, Ngữ; bà (trắc thất) Trịnh Thị Nguyệt sinh nữ là Luận; bà (trắc thất) Nguyễn Thị Hoa sinh nam là Mật, Huấn; cố Đinh Thị Xuân sinh nam là Truân; cố Võ Thị Phú sinh nam Nguyên, Hàm, nữ Kiều. Thiếp Trương Thị Thanh, sinh nam Hân, Nãi; (thiếp) Nguyễn Thị Nhơn sinh nam Nhậm; cố Trịnh Thị An sinh nam Đảng; Nguyễn Thị Cần sinh nam Huệ; Nguyễn Thị Tòng sinh nữ Uyển; Nguyễn Thị Viễn, sinh nam Trữ. Nam gồm 14 người: Tư, Huỳnh, Mật, Ngữ, Huấn, Nguyên, Truân, Hàm, Hân, Đảng, Huệ, Nhậm, Nãi, Trữ. Nữ 5 người: Viên, Luận, Thanh, Kiều, Uyển [31, 99].

Tuy nhiên, khi đối chiếu với nội dung văn bia này và một số tài liệu khác thì số liệu này chưa đầy đủ. Chẳng hạn theo nội dung tấm bia trên thì không có tên phò mã Nguyễn Văn Thuyên. Có lẽ do liên quan đến vụ án Nguyễn Văn Thuyên và một số vấn đề lịch sử khác nên khi dựng bia, một số người vợ và con của Nguyễn Văn Thành không được ghi vào đây.

Còn theo gia phả của họ Nguyễn Quận công, thì Nguyễn Văn Thành có tới 17 người vợ và 27 người con, gồm 20 nam và 07 nữ [7, 300-301], [125]. Tuy nhiên, gia phả này lại không có tên “Bà chánh thất của ngài là cố Trịnh Thị Sáu, sinh nữ là Viên”. Sau khi nghiên cứu, tổng hợp và đối chiếu các tư liệu, theo tác giả luận văn Nguyễn Văn Thành có 18 người vợ và 28 người con, gồm 20 nam và 08 nữ.

Trong  số các con của Nguyễn Văn Thành, có 02 người con trai liên quan đến hai sự việc lớn dưới triều Nguyễn. Có lẽ đây là một trong những nguyên nhân khiến cuộc đời và gia đình của Nguyễn Văn Thành rơi vào bi kịch.

Người thứ nhất là phò mã Nguyễn Văn Thuyên. Ông đỗ cử nhân khoa Quý Dậu (1813), kết duyên cùng công chúa của Vua Gia Long. Ông là người hay lấy thơ văn để giao thiệp với khách khứa, bạn bè. Năm 1814, Nguyễn Văn Thuyên viết một bài thơ gửi mời hai người bạn ở Thanh Hóa vào chơi, trong bài thơ có câu: “Sơ tể phen này dù gặp gỡ/ giúp nhau xoay đổi hội cơ này”. Chỉ có thế, vậy mà một số kẻ tị hiềm đã lập luận, suy đoán rằng cha con Nguyễn Văn Thành ý phản loạn, muốn truất ngôi vua. Việc kêu oan không được vua Gia Long minh xét. Nguyễn Văn Thành phải uống thuốc độc vào năm Đinh Sửu (1817), hưởng thọ sáu mươi tuổi. Còn con trai Nguyễn Văn Thuyên thì bị xử án chém. Sau khi chồng [Nguyễn Văn Thuyên] chết, để tránh mặc cảm xa lánh của xã hội “bà công chúa [vợ của Nguyễn Văn Thuyên] cho bán hết tài sản để con trai là cụ Hằng ra Bắc Hà định cư cho khỏi tiếng còn công chúa thì đi tu” [7, 268]. Hậu duệ của dòng này hiện nay là chi họ Nguyễn ở Hưng Yên và Nam Định - Thái Bình [7, 291]. Nếu theo thứ tự con trưởng trong gia phả, thì đây là chi nhất trong phái Nguyễn Văn Thành.

Người thứ hai là Nguyễn Văn Hàm, đã theo Lê Văn Khôi (con nuôi của Lê Văn Duyệt) nổi dậy chiếm thành Phiên An (năm 1833), chống lại triều đình, “con [Nguyễn Văn] Thành là Hàm theo giặc [Lê Văn Khôi] quản vệ năm khuông” [70, 395]. Cuộc nổi dậy nhanh chóng bị dật tắt, “Vua sai bắt cả thân thuộc lũ con Thành là Thần, Nhâm, Chuân, Huyền, Hân đều phải tội chết” [70, 395]. Hậu duệ của dòng này (Nguyễn Văn Hàm) hiện nay là chi họ Nguyễn ở thành phố Hồ Chí Minh. Nếu theo thứ tự con trưởng trong gia phả, thì đây là chi thứ ba trong phái Nguyễn Văn Thành.

Chính sau hai sự kiện này, không những gia đình mà cả dòng họ Nguyễn Văn Thành bị thất tán. Mãi cho đến năm 1847, Đông Các Đại học sỹ Vũ Xuân Cẩn dâng sớ xin vua Tự Đức truy xét công trạng của Nguyễn Văn Thành và được vua chấp thuận, “vua liền cho cháu Thành là Loại làm chủ quân cai đội. Lại chiếu rửa tội trước cho Thành để khuyến khích người có công” [70, 395].

Nguyễn Văn Thành còn có người con trai nữa là Nguyễn Văn Hân (1812-1865). Khi xảy ra vụ án Nguyễn Văn Thành, vì còn nhỏ nên phải ở lại Phú Xuân chịu tang cha, “cho đến năm 1820 mới theo người anh là Nguyễn Văn Hàm chạy vào Gia Định, tới Quảng Nam thì gặp Vũ Trinh nên Hàm gửi tạm Hân ở lại đây. Năm 1828 Vũ Trinh trở về quê còn ông Hân tiếp tục ở lại Quảng Nam... Năm 1858, Hân cưới vợ và sinh được 4 người con, đến năm 1868 vua Tự Đức có chiếu tha tội cho Quận Thành có dời Hân ra làm quan (Bố Chánh Hội An, Quảng Nam)” [7, 273].

Một số khác thì phải lưu tán khắp nơi và thay tên đổi họ để mưu cầu sự sống như trường hợp “họ Trần” ở Long Sơn, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang:

Sau sự kiện Nguyễn Văn Thành, một người miền ngoài cùng gia đình và một số gia nhân, người hầu thân cận đến lập nghiệp tại thôn Long Sơn, thuộc Tân Châu đạo. Nhóm người này cùng sinh sống trong một cộng đồng người Hoa họ Trần và sau đó người ta gọi ông là “Trần Văn Kiển”. Dân địa phương ít nhiều có thiện cảm với dòng họ Trần Long Sơn qua cách sống mực thước, mang nhiều ảnh hưởng nhà quan nhưng giản dị, gần gũi... Trần Văn Kiển mà một trong những người con của Nguyễn Văn Thành, chạy vào mảnh đất tận cùng sát biên giới Chân Lạp, thay tên, đổi họ để tìm con đường sống [7, 270-271].

Ông có cô trưởng nữ là Nguyễn Thị Viện [Viên] (con của bà chánh thất Trịnh Thị Sáu), sinh năm Quý Sửu (1793). Bà Viện kết duyên cùng ông Tôn Thất Toại, con trai ông Tôn Thất Hội-Khâm sai Tiền Bạt Chư đạo Bình Tây Đại tướng quân và bà Trần Thị Nhuận. Bà Viện sinh được 5 người con (3 trai và 2 gái). Chính bà Viện đã cúng cho bên ngoại (dòng họ Nguyễn Văn Thành) thửa đất 3,1 sào (1.550 m2) để xây dựng từ đường Quận công từ (ở đường Nguyễn Lộ Trạch, Thành phố Huế hiện nay) [7, 305].

Ngoài ra, ông có gả một người con gái (?) của mình cho một thuộc tướng ở ấp Tây Sơn, Bình Định (sau đổi thành trấn An Tây, Bình Định) là Nguyễn Văn Tứ. Năm Gia Long thứ 3 (1804), vua “phong Nguyễn Văn Tứ chức Hữu quân Thiện võ, chánh Khâm sai Chưởng tứ ân hầu” [7, 201]. Tháng 12 năm Gia Long thứ 16 (1817), sau khi xảy ra vụ án của Quận công Thành, Nguyễn Văn Tứ xin thôi việc vì tuổi cao sức yếu. Nhưng vua Gia Long không đồng ý vì “nghĩ là người có công, muốn cho ăn lộc trọn đờiliền lấy Khâm sai Chưởng cơ vệ úy Thiện võ Hữu quân là Nguyễn Văn Tứ lãnh quả thủ nguồn Cầu Bông (thuộc tỉnh Bình Định)” [73, 962]. Cùng thời điểm đó, vua Gia Long cũng phong cho Nguyễn Văn Trân (con Nguyễn Văn Tứ, cháu ngoại Nguyễn Văn Thành) chức Cai chưởng Bình nhung Diện ngọc hầu. Năm Minh Mạng thứ 2 (1821), vua lại “phong Nguyễn Văn Lưu (con Nguyễn Văn Tứ) chức Trung hữu Thống chế Bình Định trấn” [7, 210]. Năm 1828, Nguyễn Văn Tứ chết, vua sai cấp tiền tuất theo lệ Tòng nhị phẩm.

Tiểu kết

Bác Vọng là một vùng đất “địa linh nhân kiệt”, được hình thành cùng với quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Với vị trí địa lý hết sức thuận lợi, có dòng sông Bồ làm yếu tố “minh đường” rộng lớn chảy qua, tạo nên một vùng đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu. Đồng thời, con sông này cũng chính là “trục đường giao thông” quan trọng nối Bác Vọng với Phú Xuân (qua ngã ba Sình), Hương Trà, Phong Điền... Làng Bác Vọng còn là nơi sản sinh ra nhiều vị tướng tài, những người con anh hùng có nhiều đóng góp cho đất nước. Chính nhờ những yếu tố “địa lợi, nhân hòa” đó, nơi đây đã được các chúa Nguyễn chọn làm thủ phủ của đất Đàng Trong trong suốt 26 năm. Ra đời cùng với quá trình di dân lập làng của người Việt trên địa bàn huyện Quảng Điền vào khoảng thế kỷ XV. Đến đầu thế kỷ XVII, dân cư quy tụ ngày càng đông đúc, làng Bác Vọng đã được tách làm hai giáp Đông, Tây và tồn tại cho đến ngày nay.

Nguyễn Văn Thành quê gốc ở làng Bác Vọng. Ông sinh trưởng trong một gia đình vốn có truyền thống văn hóa và hiếu học, cha ông là người “khảng khái đảm lược”, giỏi võ nghệ, mẹ ông là một người phụ nữ Nam Bộ dịu hiền, nết na. Ngay từ nhỏ Nguyễn Văn Thành đã “thích đọc sách” và có “tài võ nghệ”, được cha mẹ nuôi dạy, cho học hành đàng hoàng, lớn lên ông trở thành người “trì trọng, mưu lược”. Vì vậy, trong số các vị tướng thời bấy giờ (thời Nguyễn Ánh) ông là người có kiến thức uyên bác hơn cả.  Mặt dù không sinh ra và lớn lên trên quê hương Bác Vọng, nhưng những truyền thống văn hóa, lịch sử của quê hương cùng với sự nuôi dạy của gia đình đã góp phần hun đúc nên tài năng và khí chất của Nguyễn Văn Thành. Khi mới 15 tuổi, ông đã theo cha phò chúa Nguyễn đánh quân Tây Sơn. Sau đó cùng Nguyễn Ánh bôn ba mấy chục năm trời khôi phục vương triều Nguyễn, trở thành một trong những người có công lớn nhất phò tá vua Gia Long lên ngôi hoàng đế. Các con của ông cũng tiếp nối truyền thống của gia đình, dòng họ, đều là những người học hành và đỗ đạt, làm quan dưới triều Nguyễn.

Tuy nhiên, chỉ vì để “mất lòng đồng liêu và cả sự tin yêu của vua” mà cuộc đời của Nguyễn Văn Thành đã rơi vào bi kịch. Với những công lao, đóng góp vô cùng to lớn nhưng cuối cùng, toàn bộ công danh, sự nghiệp của Nguyễn Văn Thành đều mất và ngay cả tính mạng cũng không giữ được, khiến cả gia đình, dòng họ bị thất tán, lưu lạc khắp nơi, thậm chí phải thay tên đổi họ để bảo toàn sinh mạng. Mãi cho đến 30 năm sau cái chết đầy oan khuất của ông, Đông Các Đại học sỹ Vũ Xuân Cẩn đã dâng sớ lên vua Tự Đức xin vua minh oan và phục chức cho Nguyễn Văn Thành. Sau khi được minh oan, con cháu ông mới dần quy tụ lại. Ngày nay, hậu duệ của Nguyễn Văn Thành có mặt trên khắp cả nước, đại diện cho 3 vùng Bắc – Trun -Nam có 3 nhà thờ chi họ Nguyễn Văn Thành. Trong đó, từ đường Nguyễn Quận công từ (Huế) là nơi thờ tự Nguyễn Văn Thành và thân sinh của ông, và cũng được xem như nhà thờ tổ họ của phái Nguyễn Văn Thành. Bên cạnh đó, do không lưu giữu được gia phả nên trên thực tế hiện nay, vẫn còn một bộ phận con cháu của Nguyễn Văn Thành còn lưu lạc, chưa tìm được nguồn cội.

Chương 2.
BƯỚC ĐƯỜNG LÀM QUAN CỦA NGUYỄN VĂN THÀNH (1773-1817)

2.1. Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX

2.1.1. Về chính trị

Năm 1558, Đoan quận công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng Thuận Hóa, 23 năm sau ông lại được vua Lê cho kinh dinh luôn vùng đất Quảng Nam. Từ đó Nguyễn Hoàng được cai quản cả vùng Thuận-Quảng đầy tiềm năng, một vùng đất “quan trọng, quân và của do đấy mà ra” [112, 4]. Để thực hiện ý đồ cát cứ, các chúa Nguyễn từ Nguyễn Hoàng đến các đời tiếp theo đã dần dần xây dựng Đàng Trong thành một chính quyền riêng biệt đối lập với chính quyền Lê -Trịnh ở Đàng Ngoài trên mọi phương diện. Với chính sách cai trị khoan hòa, “Chúa vỗ về thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến phục” [56, 138]. Chính nhờ vậy, vùng đất Đàng Trong ngày càng được mở mang, kinh tế, xã hội, bộ máy hành chính, quân sự... ngày càng được củng cố và phát triển vững mạnh. Đàng Trong trở thành một vương quốc mới, sánh ngang hàng với chính quyền Lê-Trịnh ở Đàng Ngoài. Kể từ đó, vùng đất Đàng Trong trở thành nơi dấy nghiệp của họ Nguyễn, lần lượt các chúa Nguyễn đã mở mang bờ cõi, phát triển kinh tế, xây dựng vùng đất này trở nên “yên bình thịnh trị”.

Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ XVIII, tình hình chính trị Đàng Trong bắt đầu rối ren, có dấu hiệu của sự khủng hoảng. Năm 1738, chúa Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi và 6 năm sau thì xưng vương (1744). Do ham mê tửu sắc, bỏ bê việc triều chính, không chăm lo đến đời sống nhân dân, nên tình hình đất nước ngày càng suy yếu. Sau khi võ vương Nguyễn Phúc Khoát băng hà, năm 1765 “ấu chúa Nguyễn Phúc Thuần do di chiếu giả mạo của Trương Phúc Loan và bọn quyền thần trong phủ chúa được đưa lên ngôi” [38,119]. Nhưng, Duệ Tông lúc này mới 12 tuổi, “chỉ thích ca hát vui chơi chưa biết gì về điều hành chính sự” [38, 119]. Chính vì vậy mà mọi quyền hành đều nằm trong tay Trương Phúc Loan, “Loan là người tham của, thấy lợi thì tranh trước. Vì vậy mà y có vàng bạc, châu ngọc, ấm vóc, của báu chất đầy nhà. Ruộng vường, nhà cửa, nô bộc, trâu ngựa nhiều không kể xiết” [56,176]. Dưới thời Trương Phúc Loan lộng hành, chuyên quyền, chính sự Đàng Trong cực kỳ thối nát. Nạn tham nhũng, luồn cúi, đút lót trở thành đường tiến thân của nhiều quan lại lúc bấy giờ, “nộp tiền để trao quan chức là hình thức rất phố biến ở Đàng Trong. Những người có tiền có thể nộp một khoảng nhất định... là được bổ nhiệm quan chức theo cấp bậc khác nhau...vì chỉ nộp tiền thôi mà được trao quan tước nên người ta đã tranh nhau nộp tiền” [112, 13]. Chính vì vậy mà các quan chức trong các xã thôn ở Đàng Trong tăng lên rất nhiều, “mỗi xã có tới 17 tướng thần và 20 xã trưởng” [56, 176]. Còn các bậc trung thần, người tài giỏi thì ngày càng bị dìm xuống, một số người “giả điếc làm ngơ”, có người chọn cách ở ẩn “để giữ gìn tính mệnh trong quán cỏ liều tranh”. Tình trạng suy đốn đến nỗi Lê Quý Đôn phải thốt lên rằng: “dùng người như thế hỏi sao không mất nước”. Từ đây, triều đình bắt đầu có sự rạn nứt, những dấu hiệu suy vong của triều đình chúa Nguyễn đã xuất hiện.

Năm 1771, anh em nhà Tây Sơn dựng cờ khởi nghĩa ở Bình Định. Với khẩu hiệu: “đánh đổ Trương Phúc Loan, ủng hộ Hoàng tôn Dương”, phong trào đã nhanh chóng quy tụ lực lượng nông dân khắp nơi đứng lên chống lại chính quyền phong kiến họ Nguyễn ở Đàng Trong. Sau một thời gian chuẩn bị lực lượng và xây dựng căn cứ, từ miền Tây Sơn Thượng đạo, nghĩa quân tiến xuống đánh chiếm vùng Hạ đạo, đi đến đâu nghĩa quân cũng được nhân dân ủng hộ: “dân chúng ở các làng mạc bị sưu thuế đè nén quá đáng đã hăng hái tuyên thệ đi theo những người tự nhận là cứu tinh của họ” [56, 179]. Năm 1773 bằng mưu kế, quân Tây Sơn chiếm được Quy Nhơn, cắt đứt kinh thành Phú Xuân với Gia Định. Trong lúc chính quyền Đàng Trong đang tìm mọi cách đối phó với phong trào Tây Sơn thì vào cuối năm 1774, quân Trịnh vượt sông Gianh tấn công vào Đàng Trong và nhanh chóng chiếm được Phú Xuân. Chúa Nguyễn Phúc Thuần phải mang gia quyến chạy vào Gia Định.

Sau khi tìm cách hòa hoãn với quân Trịnh và xin nhận làm tướng tiên phong đi đánh quân Nguyễn ở phía Nam. Cuối năm 1775, quân Tây Sơn chiếm được Phú Yên và Gia Định. Năm 1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế, đóng đô ở thành Đồ Bàn. Liên tục nhiều năm sau đó, Nguyễn Nhạc đã đưa quân tấn công vào Nam Bộ. Chúa Nguyễn Phúc Thuần khi vào Gia Định mặc dù được nhân dân miền Nam hết lòng ủng hộ và giúp đỡ, nhưng trước sức mạnh của phong trào Tây Sơn, lực lượng chúa Nguyễn đã nhanh chóng tan rã và bị quân Tây Sơn tiêu diệt. Lực lượng chúa chỉ còn lại một nhóm nhỏ cùng hậu duệ cuối cùng là Nguyễn Ánh lúc này mới chỉ mới 17 tuổi chạy ra đảo Côn Lôn. Với quyết tâm khôi phục cơ đồ hơn 300 năm gây dựng của dòng họ, Nguyễn Ánh được sự giúp sức của Đỗ Thanh Nhân đã tập hợp quân sĩ tái chiếm thành Gia Định. Sau khi có Gia Định, Nguyễn Ánh ra sức xây dựng lực lượng, sửa sang mọi việc về quân sự và dân sự ở Nam Bộ. Mặc khác, Nguyễn Ánh còn nhờ đến sự giúp đỡ của Xiêm La, đặc biệt là thông qua giáo sỹ Bá Đa Lộc, Nguyễn Ánh đã nhận được sự giúp đỡ từ những thương nhân Pháp. Nhờ vậy, lực lượng của Nguyễn Ánh nhanh chóng lớn mạnh: “chỉ trong vòng hai năm, Nguyễn Phúc Ánh đã có 3 vạn quân thủy bộ, tám mươi thuyền chiến hạng vừa, ba thuyền chiến lớn, hai chiếc tàu kiểu Châu Âu. Ngoài ra còn có ba tàu đồng do các sỹ quan và thủy thủ Bồ Đào Nha điều khiển” [83, 82]. Từ Gia Định, Nguyễn Ánh đã tấn công trở lại quân Tây Sơn, làm chủ Bình Khang, Diên Khánh, Quảng Nam rồi Bình Định sau 3 lần tấn công vào thành Quy Nhơn. Lợi dụng tình hình mất đoàn kết trong nội bộ nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh tăng cường các cuộc tấn công làm cho phong trào Tây Sơn suy yếu hẳn. Tháng 6 năm 1801, Nguyễn Ánh đem quân ra đánh Phú Xuân, vua Quang Toản không chống trả nổi phải chạy ra Bắc, Phú Xuân rơi vào tay Nguyễn Ánh. Sau khi chiếm được Phú Xuân, Nguyễn Ánh tiếp tục đưa quân tấn công ra Bắc Hà và nhanh chóng làm chủ toàn bộ lãnh thổ Đại Việt. Năm sau (1802), Nguyễn Ánh lên ngôi, đặt niên hiệu là Gia Long, thừa hưởng một đất nước trải dài từ Nam Quan đến mũi Cà Mau. Cũng như những vị vua trước đó, Gia Long không thể xây dựng một nhà nước nào khác ngoài nhà nước quân chủ trung ương tập quyền đã được định hướng từ thế kỷ thứ X.

- Tổ chức hành chính và bộ máy nhà nước: Sau khi đất nước được bình định, vua Gia Long đã tập trung thiết lập bộ máy cai trị đất nước trên một lãnh thổ rộng lớn từ Trung ương đến địa phương theo chế độ “quân quản”. Gia Long chọn Phú Xuân làm kinh đô của cả nước, các tỉnh từ Thanh Hoa ngoại đến Bình Thuận đặt dưới quyền quản lý trực tiếp của triều đình. Phía Bắc từ Sơn Nam Hạ trở ra bao gồm 11 trấn gọi là Bắc Thành, phía Nam từ Trấn Biên trở vào gồm 5 dinh, trấn gọi là Gia Định Thành. Cai quản Bắc Thành và Gia Định Thành do một viên quan đại thần đứng đầu gọi là Tổng trấn, giúp việc cho Tổng trấn có Hiệp trấn và Phó Tổng trấn. Ở mỗi thành, Gia Long đặt 3 tào: Binh, Hộ, Hình chia nhau chuyên trách từng phần, kiêm cả Lại, Lễ, Công.

 Ở Trung ương: triều đình do nhà vua đứng đầu, tiếp đến có 6 bộ: Binh, Hình, Lại, Lễ, Hộ, Công do Thượng thư đảm nhận. Ngoài ra, còn có một số cơ quan chuyên trách một số việc của triều đình như: Ngũ quân đô thống phủ phụ trách về quân đội, Đô ngự sử giữ việc thanh tra và can gián và Hàn lâm viện, Nội vụ phủ, Khâm thiên giám... phụ trách các lĩnh vực khác nhau.

Ở cấp chính quyền dinh, trấn: năm 1808 vua Gia Long cho thay 3 ty Đô, Thừa, Hiến (thời Lê) thành hai ty: Tả thừa ty và Hữu thừa ty. Tả thừa ty có 3 phòng: Binh, Hình, Công; Hữu thừa ty có 3 phòng: Lại, Hộ, Lễ. Đứng đầu có Trấn thủ quán xuyến chung, ngoài ra có quan Hiệp trấn phụ trách Tả thừa ty và Tham hiệp phụ trách Hữu thừa ty.

Dưới trấn, dinh, lộ là phủ, huyện, châu, tổng, xã do các viên quan đứng đầu cai trị. Đối với các vùng dân tộc ít người, vua Gia Long giao cho các thổ tù giữ quản.

Mô hình tổ chức bộ máy nhà nước này tồn tại trong suốt 30 năm đầu triều Nguyễn. Đến năm 1832, vua Minh Mạng tiến hành cuộc cải cách hành chính, xóa bỏ hai cấp trung gian là Bắc Thành và Gia Định Thành, chia cả nước thành 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên đặt dưới sự quản lý trực tiếp của triều đình. Bỏ 2 ty Tả, Hữu ở cấp tỉnh và thay bằng hai ty Án Sát và Bố Chánh. Ngoài ra, vua Minh Mạng còn đặt thêm một sô cơ quan như: Nội các, Đô sát viện, Tôn nhân phủ... Ở cấp cơ sở cũng có một số thay đổi đáng kể. Tổ chức bộ máy chính quyền thời Minh Mạng được đánh giá là hoàn bị và chặt chẽ, thể hiện tính tập quyền chuyên chế cao, mọi quyền lực đều đặt dưới sự quản lý trực tiếp của nhà Vua.

 Ngoài ra, do sợ quyền thần lấn át hoàng đế nên từ thời Gia Long, nhà Nguyễn đã đặt ra lệ “Tứ bất”: không đặt Tể tướng, không lấy Trạng nguyên, không lập Hoàng hậu, không phong tước vương. Tuy nhiên, để “mở rộng dân chủ” nhà Nguyễn lại cho áp dụng chế độ công đồng và đình nghị nhằm lấy ý kiến rộng rãi của đội ngũ quan lại cho một quyết định nào đó.

- Về pháp luật: vua Gia Long nói riêng và các vua triều Nguyễn nói chung đều rất coi trọng pháp luật. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long tham khảo luật Hồng Đức đặt ra 15 điều khoản để xét xử các vụ kiện. Đến năm 1811, đã “sai đình thần soạn định luật lệ, lấy Nguyễn Văn Thành sung chức Tổng tài” [73, 807], tiến hành soạn luật mới. Bộ Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là luật Gia Long) do Tổng tài Nguyễn Văn Thành tổ chức biên soạn đến năm 1812 thì hoàn tất, gồm 398 điều, chia làm 7 chương và 30 điều tạp tụng. Sau khi xem và sửa chữa một số điều, năm 1815 vua Gia Long đích thân viết lời Tựa và cho khắc in để thi hành trong cả nước.

- Về quân đội: các vua triều Nguyễn luôn ý thức việc xây dựng một quân đội thường trực mạnh ở kinh đô, các tỉnh, phòng vệ các cửa khẩu, “ở kinh đô có thân binh, cấm binh, tinh binh và có đội quân nhạc 50 người. Ở các trấn có lính cơ, lính mộ” [10, 29]. Vào thời Gia Long, sau khi ổn định tình hình, vua đặt phép giản binh để tuyển mộ tân binh: “... từ Quảng Bình đến Bình Thuận cứ 3 người dân phải có 1 người đi lính, từ Biên Hòa trở vào cứ 5 người lấy 1 người, từ Hà Tĩnh trở ra Bắc cứ 7 người lấy 1 người. Các tỉnh ngoại trấn cứ 10 người dân có 1 người đi lính” [62, 45]. Quân lính chia làm 3 phiên, 2 phiên cho về quê làm ăn và  một phiên ở lại, cứ thế thay nhau. Với những chính sách tích cực đó, “vào cuối thời Gia Long, nhà Nguyễn có tới trên 20 vạn quân, chia ra ít nhất 4 binh chủng” [56, 190]. Về vũ khí “...cứ 113.000 lính có 30.000 vũ khí phương Tây, cứ 15.000 pháo thủ có 4.000 đại bác... Có 8.000 tượng binh với 200 thớt voi chiến. Ngoài ra, còn có 12.000 thân binh và cấm binh được trang bị súng điểu thương... 42.000 lính vũ trang bằng gươm” [62, 45]. Đến thời Minh Mạng, Thiệu Trị, quân đội tiếp tục được củng cố và phát triển mạnh.

- Về ngoại giao: sau khi lên ngôi, quốc gia đầu tiên Gia Long đặt quan hệ ngoại giao là nhà Thanh. Vào “tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), Gia Long cho một đoàn sứ giả đem đồ cống sang Quảng Đông cầu phong triều đình Trung Quốc”, được vua Thanh chấp thuận và sai sứ sang Đại Việt tuyên phong cho Gia Long. Đến “đầu năm Giáp Tý (1804), sứ Trung Quốc tới Thăng Long. Ngày 13 tháng Giêng năm Giáp Tý, lễ tuyên phong tổ chức tại điện Kính Thiên” [17, 213-214]. Sau đó không lâu, vua Gia Long tuyên cáo đặt quốc hiệu mới là Việt Nam (29-3-1804). Đối với các quốc gia ở phía Nam, triều Nguyễn thực hiện chính sách đàn áp và bắt thần phục “năm 1813 nhà Nguyễn thiết lập chế độ bảo hộ ở Cao Miên. Năm 1815, Minh Mạng lập ra trấn Tây Thành, định sáp nhập đất Cao Miên vào hẳn lãnh thổ Việt Nam” [56, 192]. Đối với phương Tây, ở giai đoạn đầu vua Gia Long vẫn thi hành chính sách tương đối cởi mở với Pháp và hậu đãi một số người Pháp đã từng giúp đỡ mình như: Chaigneau, Vanier và Despiau... Nhưng từ thời Minh Mạng trở đi, các vua Nguyễn bắt đầu khước từ quan hệ với các nước phương Tây và thi hành chính sách cấm đạo gay gắt. Những hành động “đóng cửa”, “cấm đạo” này cộng thêm một số nguyên nhân khác đã làm cho đất nước ngày càng lún sâu vào tình trạng trì trệ, lạc hậu, dẫn đến suy kiệt khả năng tự vệ trước sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây vào giữa thế kỷ XIX.

2.1.2. Về kinh tế

Vào thế kỷ XVI-XVII, với những chính sách vô cùng cởi mở của các chúa Nguyễn như: cho phép các quan lại, địa chủ mộ dân đi khai hoang các vùng đất mới, cấp phát trâu bò, dụng cụ để người dân cày cấy, cho sở hữu tư nhân về ruộng... đã kích thích và thu hút một lực lượng đông đảo người dân đến khai hoang, mở rộng các vùng đất mới ở Nam Bộ. Nhờ vậy, kinh tế Đàng Trong có bước phát triển mạnh trên tất cả các lĩnh vực. Đây cũng được xem là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của ngoại thương và nền kinh tế hàng hóa ở Đàng Trong. Ngoài các nước có truyền thống buôn bán từ trước như: Trung Quốc, Nhật Bản. Trong giai đoạn này, nhiều quốc gia phương Tây khác như: Bồ Đào Nha, Hà Lan, Tây Ban Nha, Anh, Pháp... đều đến buôn bán với Đàng Trong. Tạo nên sự hưng khởi của nhiều đô thị như: Hội An, Thanh Hà, Nước Mặn, Đồng Nai, Sài Gòn, Hà Tiên. Đặc biệt, ở Hội An có cả phố người Nhật và người Hoa được lập ra để định cư buôn bán. Từ khi có hoạt động ngoại thương, các sản phẩm nông nghiệp cũng trở thành hàng hóa để xuất khẩu, các mặt hàng đặt sản như: hồ tiêu, quế, trầm hương, yến sào, lụa... được khai thác rất hiệu quả.

Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ XVIII, kinh tế Đàng Trong bắt đầu có dấu hiệu sa sút. Sự suy thoái kinh tế thể hiện rõ trong lĩnh vực nông nghiệp, tình trạng bỏ hoang ruộng đất ngày càng phổ biến, tiêu biểu ở vùng Thuận-Quảng, đây là nơi đất chật người đông, vậy mà từ giữa thế kỷ XVIII hiện tượng dân bỏ ruộng hoang ngày càng nên phổ biến. Theo Lê Quý Đôn, năm 1774 “Thuận Hóa có 09 huyện, ruộng đất toàn bộ có 256.507 mẫu, nhưng thực cày chỉ có 153.600 mẫu, số còn lại phần lớn bị bỏ hoang. Xứ Quảng Nam có 25 huyện, ruộng đất nhiều gấp bội so với Thuận Hóa, nhưng ruộng thực cày cũng chỉ được khoảng 27 vạn mẫu. Huyện nào cũng có ruộng bỏ hoang” [56, 175]. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng ruộng đất bị bỏ hoang, không người cày cấy một phần do đất cằn cỗi, khó canh tác, vấn đề thủy lợi không đảm bảo do thiếu sự quan tâm của nhà nước. Mặt khác, do nhà nước thu quá nhiều loại thuế khiến dân không chịu nổi: “hàng năm có hàng trăm thứ thuế mà trưng thu thì phiền phức, gian lận, nhân dân khổ vì nỗi một cổ hai tròng... trong vòng 7 năm (từ năm 1746 - 1752), chính quyền họ Nguyễn thu vào trên 5.768 lạng vàng, 45.404 lạng bạc các loại và hơn 2 triệu quan tiền. Số dân phải đóng còn gấp hai ba lần số đó vì về nhà nước được một phần thì kẻ trưng thu lấy hai phần” [56, 176]. Trong khi đó, những ruộng đất tốt lại bị bọn nhà giàu xâm chiếm, người nghèo không có mảnh đất cắm dùi. Chính vì lẽ đó mà người nông dân không thể tiếp tục cày cấy trên mảnh đất của mình, phải bỏ đi nơi khác làm ăn hoặc tìm công việc làm thuê mướn để sống qua ngày. Các nghành thủ công nghiệp, khai thác lâm sản cũng sa sút...

Đặc biệt, hoạt động ngoại thương rơi vào đình trệ nghiêm trọng. Lúc này, tàu buôn phương Tây hầu như không đến Đàng Trong nữa, người Nhật cũng dần dần rút lui không buôn bán tại Hội An, phố người Nhật theo đó cũng suy tàn. Đến thế kỷ XVIII, tàu buôn nước ngoài tham gia vào hoạt động ngoại thương ở Đàng Trong chủ yếu là các thương nhân người Hoa nhưng cũng có dấu hiệu suy giảm, “trong 10 năm cuối thế kỷ XVII, tàu Trung Quốc nối liền quan hệ thương mại giữa Đàng Trong với Nhật Bản là 29 chuyến thì  đến 10 năm đầu thế kỷ XVIII còn 11 chuyến và 10 năm tiếp theo chỉ còn 5 chuyến” [56, 174]. Sự sa sút của ngoại thương đã kéo theo sự suy tàn của nhiều đô thị ở Đàng Trong, đặc biệt là đô thị Hội An. Trong thế kỷ trước, Hội An là một thương cảng rất sầm uất, được ví “như một cái kho chung của tất cả hàng hóa và là nơi trú ngụ của thương nhân người Hoa với những bến đậu dọc theo bờ một con sông vướng đầy ghe thuyền”. Tuy nhiên, đến giai đoạn này tàu bè ra vào Hội An cũng thưa thớt, đến “năm 1773, toàn bộ số tàu đến Hội An chỉ còn 8 chiếc” [56, 174].

Sự suy thoái nền kinh tế ở Đàng Trong do nhiều nguyên nhân, trong đó một phần do tình hình chính trị không ổn định. Giai đoạn này chúa Nguyễn không còn quan tâm và thực thi những chính sách tích cực để mở mang đất đai, phát triển sản xuất mà chỉ chăm lo vun vén cho lợi ích riêng của cá nhân, dòng họ. Ngoài ra, triều đình đặt dưới sự chuyên quyền của Trương Phúc Loan ngày càng trở nên thối nát, hoạt động kém hiệu quả. Nạn tham ô, tham nhũng lan tràn, sưu cao thuế nặng khiến người nông dân không thể cày cấy phải bỏ ruộng đất hoang. Đối với ngoại thương, ngoài nguyên nhân khách quan do tình trạng sa sút của luồng thương mại quốc tế, còn do sự sách nhiễu, phiền hà của chính quyền, Pooavrơ đến Đàng Trong năm 1749 đã nhận xét việc buôn bán gặp nhiều khó khăn “vì muốn công việc được dễ dàng trôi chảy thì phải có lễ vật đút lót, hối lộ cho các quan lại, hào trưởng. Nếu không sẽ bị trộm cắp, bị gặp mọi điều trở ngại” [56, 174].

Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng suy thoái kinh tế của Đàng Trong giai đoạn này là do “nạn tiền hoang”. Nguyên trước đây các chúa Nguyễn sử dụng tiền đồng để lưu hành, nhưng do Đàng Trong không có mỏ đồng nên phải nhập hoàn toàn từ bên ngoài. Đến thế kỷ XVIII, ngoại thương suy giảm, đồng dùng để đúc tiền không đủ nên Võ vương Nguyễn Phúc Khoát đã cho mua kẽm trắng để đúc tiền ở Lương Quán. Nhưng càng về sau, kẽm trắng cũng ngày càng khan hiếm nên phải pha lẫm kẽm đen để đúc tiền, kẽm đen kém chất lượng nên mau hỏng, không thể lưu hành hoặc cất giữ lâu được nên dân chúng không thích: “người ta cho là tiền kẽm chóng hư mà tiền đồng là bền bỉ, bởi đó dân cứ muốn tích trữ lúa chứ không muốn tích tiền” [38, 121], thương nhân nước ngoài cũng không muốn dùng tiền kẽm: “thuyền buôn nước ngoài đến hết thảy đều không lấy tiền (tiền kẽm), đều đổi vàng bạc, tạp hóa lấy gạo muối rồi đi” [56,175]. Đặc biệt, các chúa Nguyễn còn cho phép tư nhân được đúc tiền nên đã gây ra tình trạng rối loạn tiền tệ, “những người đúc tiền tư nhân không kể vật giá cao hay hạ cứ bỏ tiền ra đong thóc. Vì thế giá thóc lên cao, giá thóc cao thì dân sợ đói, sợ đói thì tranh nhau tích trữ, tranh nhau tích trữ thì gí lúa lại càng lên cao. Giá lúa cao thì mọi vật dụng trong thiên hạ cũng theo đó mà tăng giá nghiêm trọng” [56, 175]. Tình trạng khủng hoảng tiền tệ kéo dài suốt mấy chục năm và ngày càng trầm trọng, dẫn đến tình trạng khủng toàn diện về chính trị, kinh tế, xã hội ở Đàng Trong, là tiền đề dẫn đến nhiều cuộc đấu tranh của nông dân nổ ra chống lại chúa Nguyễn, trong đó tiêu biểu là phong trào Tây Sơn.

Sang đầu thế kỷ XIX, sau khi thống nhất toàn bộ lãnh thổ từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Bên cạnh việc tập trung xây dựng bộ máy cai trị đất nước phù hợp với tình hình mới, vua Gia Long cũng quan tâm đến việc ổn định sản xuất, phát triển tiểu thủ và thương nghiệp để ổn định đời sống và nhân tâm.

- Về nông nghiệp: Gia Long với chủ trương “dĩ nông vi bản” đã hết sức coi trọng vấn đề ruộng đất và sản xuất nông nghiệp. Năm 1083, sau khi ổn định tình hình, Gia Long ra lệnh đo đạc lại ruộng đất và lập địa bạ cho từng làng ở Bắc Hà, ở miền Nam việc lập địa bạ cũng được cho thi hành sau đó vài năm. Năm 1804, Gia Long cho thực hiện phép quân điền, theo đó mọi người đều được chia ruộng đất để cày cấy, quý tộc tôn vương được cấp 18 phần, quan lại nhất phẩm được cấp 15 phần, dân nghèo được cấp 3 phần. Để phát triển nông nghiệp, vua Gia Long cho đào sông, mở đường, tu sửa đê điều. Đặc biệt, ông rất chú trọng đến việc thủy lợi: “trong thời Gia Long, nhà nước đã 11 lần cấp kinh phí cho địa phương làm việc này, mỗi lần từ 7-9 vạn quan tiền” [61, 21]. Vua Gia Long sau khi lên ngôi đã nói rằng: “trước kia nhà Tây Sơn tiếm ngôi vua, gây hỗn lọan, tạp dịch nặng nề, tô thuế phiền nhiễu, người dân không sao chịu nổi...nay trẫm nhờ uy trời, thi hành việc điếu dân phạt tội, việc điều chỉnh sưu dịch, thuế khóa vốn đã cố định cũng nên khoan giảm” [105,82], vì thế thuế ruộng đất, thuế đinh, thuế sản vật cũng được quy định lại tùy theo loại ruộng và khu vực dân cư. Nhờ vậy, sản xuất nông nghiệp từng bước được phục hồi và phát triển.

- Hoạt động của các nghề thủ công cũng có sự phát triển, đặc biệt giai đoạn này nhà Nguyễn cho trưng tập các thợ giỏi trong cả nước để xây dựng các quan xưởng, “năm 1803, Gia Long cho lập xưởng đúc tiền ở Bắc Thành rồi sau đó các quan xưởng chế tạo các vật dụng khác lần lượt được thành lập ở Huế... Ty thuyền...có đến 235 sở trên khắp các địa phương” [56, 194]. Các nghề như: đúc súng, làm đồ trang sức, gạch ngói, khắc in... cũng phát triển mạnh mẽ. Ngoài ra, một trong những hoạt động kinh tế có ý nghĩa trong giai đoạn này là khai mỏ ở khu vực phía Bắc với các loại khoáng sản như: vàng, bạc, kẽm, đồng, chì..., biện pháp chủ yếu là giao cho các thương nhân và các tù trưởng miền núi lãnh trưng, “đến trước năm 1858, tổng số các mỏ khai thác trong cả nước là 139” [56, 195].

- Hoạt động thương nghiệp: giai đoạn này đất nước được thống nhất, các hoạt động sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp được ổn định và phát triển là điều kiện để đẩy mạnh hoạt động nội thương. Lúc đầu Gia Long thực thi một số biện pháp thông thoáng, cởi mở đã tạo điều kiện cho kinh tế hàng hóa phát triển. Một số thương nhân hoạt động theo lối bao mua cũng đã xuất hiện đã kích thích mầm móng kinh tế xã hội phát triển.

Về ngoại thương, vua Gia Long không hoàn toàn “bế quan tỏa cảng”, nhưng cũng không phải mở của thông thương nên việc buôn bán với nước ngoài không mấy phát triển. Khách thương chủ yếu là Trung Quốc, Xiêm, Mã Lai... tập trung ở Hội An, Phố Hiến, Thăng Long. Còn quan hệ mậu dịch với các nước phương Tây thì nhà Nguyễn rất dè dặt, thường xuyên khước từ các đề nghị đặt quan hệ buôn bán của các nước tư bản. Chính sự hạn chế của thương nghiệp đã làm cho nền kinh tế nước ta dưới thời Nguyễn không có sự chuyển biến theo hướng kinh tế hàng hóa, đây là một trong những nguyên nhân làm cho đất nước ngày càng suy yếu và trì trệ.

2.1.3. Về văn hóa-xã hội

- Về văn hóa: Nho giáo vốn là bệ đỡ cho chế độ phong kiến ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài, nên giai đoạn này Nho giáo vẫn chiếm địa vị độc tôn trong trong hệ tư tưởng cai trị đất nước. Nhà nước vẫn dựa kinh sách Nho giáo để tổ chức thi cử và tuyển bổ quan lại. Tuy nhiên, trên thực tế nhiều giá trị đã thay đổi. Đặc biệt, tư tưởng “dĩ nông vi bản”, “thương vi mạt” không còn  được đề cao như trước, mà giai đoạn này người dân đã “thi nhau làm nghề mạt”. Các quan niệm của Nho giáo về Nhân, Nghĩa, Lễ, Tín bị thói bạc bẻo, lối sống vô ơn, thực dụng lấn át. Kỷ cương Nho giáo bị suy đồi... Lúc này, người ta lại tìm về với Phật giáo, chính vì vậy Phật giáo giai đoạn này cũng phát triển khá mạnh. Bên cạnh đó, một tôn giáo mới cũng bắt đầu được du nhập vào nước ta giai đoạn này là Thiên Chúa giáo. Tuy nhiên, việc truyền đạo vẫn chưa mạnh mẽ vì cả chính quyền Đàng Trong và Đàng Ngoài đều thi hành chính sách cấm đạo. Mặc dù vậy, sự du nhập của Thiên Chúa giáo đã đem lại một số biến đổi trong đời sống văn hóa tinh thần ở nước ta cuối thế kỷ XVII. Trong đó, nổi bật nhất là sự ra đời của chữ quốc ngữ. Ngoài ra, qua ngả đường tôn giáo, một bộ không nhỏ người Việt đã tiếp nhận văn hóa phương Tây. Bên cạnh nền tảng văn hóa cũ, những yếu tố mới xuất hiện đã góp phần làm phong phú thêm về văn hóa của đất nước giai đoạn này.

- Về xã hội: vào giữa thế kỷ XVIII, tình hình chính trị ở Đàng Trong dưới sự chuyên quyền của Trương Phúc Loan ngày càng tệ hại. Nhà nước không chăm lo đến nhân dân, phát triển kinh tế mà chỉ ra sức vơ vét, bóc lột nhân dân. Kinh tế suy thoái, thuế khóa nặng nề, quan lại tham nhũng đã làm cho đời sống nhân dân vô cùng cơ cực. Trong một bản sớ dâng lên phủ chúa vào năm Canh Dần (1770), Nho gia Ngô Thế Lân đã tâu rằng: “từ năm Mậu Tý (1768) đến nay, giá lúa vọt lên cao, mức sinh hoạt của dân đói kém” [38, 21]. Gạo đắt như vàng, cộng thêm nạn mất mùa, thiên tai lũ lụt, hạn hán xảy ra liên miên khiến cho dân tình đói khổ, không còn đủ sức để cày cấy sản xuất, “năm 1752 một nạn đói lớn đã xảy ra làm nhiều người chết đói. Từ năm 1769 đói kém xảy ra liên tục trong 4,5 năm liền”, “...tình trạng đói khổ bày ra lắm cảnh thương tâm khó tả, xác chết chồng chất lên nhau” [56, 177]. Ngay cả những vùng đất trù phú nhất cũng có khi lâm vào nạn đói. Trong đó, Thuận Hóa và Quảng Nam là hai xứ chịu cảnh đói khổ trầm trọng nhất, “từ năm Canh Dần (1770) đến năm Giáp Ngọ (1774) Thuận Hóa chịu cảnh hoang tàn cơ cực mấy năm liền”. Đặc biệt, trong nạn đói lớn ở Thuận Hóa năm Giáp Ngọ (1774) “...số người chết chiếm đến nửa dân số toàn miền Thuận Hóa” [38, 122-123].

Trong khi người dân đang nheo nhóc, quay quắt vì miếng cơm manh áo và quằn quại trong biển khổ đói khát thì chúa Duệ Tông Nguyễn Phúc Thuần và Trương Phúc Loan vẫn ăn chơi hưởng lạc. Quan lại đua nhau xây dựng dinh thự, tổ chức yến tiệc linh đình... Tình hình đó làm cho nhân dân vô cùng phẫn uất, căm hận. Từ giữa thế kỷ XVIII hiện tượng “trộm cướp nổi dậy tứ tung”. Cuộc sống khốn cùng đã đẩy người dân vào con đường phải cầm vũ khí đứng lên đấu tranh, bất cứ nơi đâu có tiếng gọi của chính nghĩa “trừ gian thần, hạ ôn chúa, giải phóng trăm họ lầm than” là nhân dân đứng lên ủng hộ. Chính vì vậy, giai đoạn này đã xả ra rất nhiều cuộc nổi dậy của nông dân: Năm 1747, một thương nhân Hoa Kiều là Lý Văn Quang đã nhóm họp gần 300 người nổi lên chiếm cứ bãi Đông Phố. Đến năm 1770, nổi dậy đã khởi phát ở Điện Bàn, cai bộ Quảng Nam phải bao phen khó nhọc đem quân trấn áp mới dẹp yên. Tiếp đến là cuộc nổi dậy ở Quảng Ngãi của người Đá Vách, quân sáu đạo ở Quảng Ngãi phải phối hợp với hai phủ Quy Nhơn, Phú Yên rất lâu mới đàn áp được... Tuy những cuộc khởi nghĩa trên đều bị dập tắt, nhưng đã báo hiệu một cơn cuồng nộ của dân chúng đang sắp sửa nổ ra. Công lao của các tiên chúa và dân chúng đã dày công khổ nhọc bao đời để xây dựng mảnh đất Thuận Hóa phên dậu xa xôi về phương Nam trở thành mảnh đất trù phú sắp có nguy cơ loạn lạc, suy vong. Và điều đó đã thật sự xảy ra khi phong trào Tây Sơn bùng nổ. Đến cuối thế kỷ XVIII, sau khi chúa Nguyễn Phúc Thuần bị quân Tây Sơn bắt giết, thành quả hơn 200 năm xây dựng cơ nghiệp của các chúa Nguyễn đã hoàn toàn sụp đổ. Đến đây, lịch sử đất nước và lịch sử của dòng họ Nguyễn chuyển sang một trang mới.

Đầu thế kỷ XIX, sau khi đánh bại triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi đặt niên hiệu là Gia Long, lập nên vương triều Nguyễn. Nhằm củng cố bệ đỡ tư tưởng cho chính quyền chuyên chế, nhà Nguyễn tìm mọi cách phục hồi Nho giáo vốn đã bị suy đồi trong giai đoạn trước. Chính vì vậy, Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng độc tôn lúc bấy giờ. Bên canh đó, Phật giáo vẫn tiếp tục phát triển, nhất là ở các vùng nông thôn. Thiên Chúa Giáo mặc dù có bước phát triển lớn mạnh hơn trước cả về hoạt động truyền đạo, các cơ sở hành đạo và số lượng con chiêng, nhưng vẫn ở trong tình trạng bị cấm đạo. Nổi bật nhất về lĩnh vực văn hóa trong giai đoạn này là sự xuất hiện của các nhà văn, nhà thơ, nhà sử học lỗi lạc với nhiều công trình được biên soạn, xuất bản như: Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Lê Hữu Trác, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương... Những thành tựu về văn hóa giai đoạn này để để lại nhiều di sản quý báu và mở ra một thời kỳ phát triển mới của văn hóa dân tộc.

Về xã hội: sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã thực thi nhiều biện pháp nhằm ổn định tình hình xã hội, khôi phục sản xuất. Tuy nhiên, những chính sách về ruộng đất của vua Gia Long không đạt được hiệu quả. Ruộng đất được chia vừa ít lại vừa xấu nên nhân dân thiếu ruộng để cày cấy, lại còn gánh chịu nhiều thứ thuế má và sưu dịch, “về thuế ruộng, nhà Nguyễn phân khu vực để đánh thuế, ngoài mỗi mẫu phải nộp thêm 1-3 tiền. Thuế nhân đinh cũng chia theo khu vực và hạng người, mức thuế từ 3-4 tiền đến 1 quan 8 tiền” [61, 24]. Đặc biệt, để phục vụ việc xây dựng kinh thành Huế, vua Gia Long đã thực hiện chế độ lao dịch nặng nề “mỗi năm mỗi dân đinh phải chịu 60 ngày lao dịch”. Một giáo sỹ người Pháp đã nhận định rằng: “vua Gia Long bóp nặn dân chúng bằng đủ mọi cách. Sự bất công và lộng hành làm cho người ta rên xiết  hơn cả ở thời Tây Sơn. Thuế khóa và lao dịch thì tăng lên gấp 3 lần” [77, 455]. Vì vậy trình trạng “bất phục” vẫn xảy ra, nhân dân vẫn hướng vọng về nhà Lê và triều đại Tây Sơn. Vào giai đoạn đầu triều Gia Long, hàng loạt cuộc khởi nghĩa của nhân dân đã nổ ra. Đặc biệt là ở khu vực phía Bắc và Nam Trung bộ, “đã có khoảng 80 cuộc khởi nghĩa trong suốt 19 năm trị vì của Gia Long. Các năm 1807, 1808, 1809, 1810... có từ 6 đến 13 cuộc khởi nghĩa mỗi năm. Có cuộc khởi nghĩa kéo dài hàng chục năm” [10, 33]. Đã thế, thiên tai mất mùa, dịch bệnh xảy ra liên miên, trộm cướp nổi dậy tứ tung làm cho đời sống nhân dân vô cùng đói khổ. Trước tình hình đó, Gia Long một mặt đem quân đi đàn áp các cuộc nổi dậy, trấn áp bọn trộm cướp, mặt khác tiến hành phủ dụ, miễn giảm thuế và mở kho phát chẩn cho dân. Nhờ vậy, tình hình xã hội và đời sống nhân dân dần dần được ổn định, “các cuộc khởi nghĩa từ năm 1813 trở lại chỉ còn 2 đến 4 cuộc khởi nghĩa mỗi năm và quy mô nhỏ hơn” [10, 33]. Trong những năm tiếp theo, triều Nguyễn đã thực thi nhiều biện pháp tích cực trên tất cả các lĩnh vực. Nhờ vậy, tình hình xã hội ngày càng yên ổn, nhân dân chăm chỉ làm ăn.

Tóm lại, bối cảnh lịch sử nước ta cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX có nhiều biến động lớn. Đất nước bị chia cắt thành hai đàng, Đàng Trong và Đàng Ngoài. Bằng những biện pháp tích cực vua Lê-chúa Trịnh và các chúa Nguyễn đã xây dựng cho mình một “đất nước” ổn định, kinh tế phát triển, đặc biệt là ngoại thương. Nhờ vậy, giai đoạn này đã hình thành nên những đô thị lớn trên kháp cả hai đàng. Tuy nhiên, sau nhiều thế kỷ yên bình thịnh trị, đến cuối thế kỷ XVIII, chính quyền Đàng Trong bắt đầu rơi vào khủng hoảng một cách toàn diện, cả về chính trị, kinh tế và xã hội. Phong trào khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi, tiêu biểu nhất là phong trào Tây Sơn do 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ lãnh đạo, làm cho đất nước rơi vào cảnh chiến tranh loạn lạc. Trong gần 30 năm cuối thế kỷ XVIII, đất nước luôn ở trong tình trạng đánh chiếm lẫn nhau giữa các thế lực. Ở Nam Bộ, cuộc chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh ở thế giằng co diễn ra vô cùng ác liệt. Trong các năm: 1775, 1777, 1782, 1783 quân Tây Sơn đã nhiều lần tấn công vào Gia Định. Lực lượng chúa Nguyễn thất bại nặng nề, Nguyễn Ánh phải trốn chạy khắp nơi đến lúc vào thế cùng đã hai lần cầu viện quân Xiêm và cầu viện cả Pháp nhưng vẫn chưa giành được thắng lợi. Năm 1786, Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Huệ đem binh ra đánh Phú Xuân. Sau khi lấy được kinh thành, với “nhiệm vụ” phò Lê diệt Trịnh Nguyễn Huệ dẫn đại binh tiến thẳng ra thành Thăng Long, tiêu diệt lực lượng chúa Trịnh. Sau khi rút quân từ Thăng Long về, vua Thái Đức phong cho Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương thống trị đất Thuận Hóa từ Hải Vân Sơn đến Hoành Sơn. Phong cho Nguyễn Lữ làm Đông Định vương quản lý đất Gia Định từ Bình Thuận đến Hà Tiên, còn mình thì xưng Trung ương Hoàng đế lo phần đất từ Quảng Nam đến Bình Thuận. Với việc phân chia quyền lực như thế, đất nước lại rơi vào tình trạng “chia năm xẻ bảy”. Đến năm 1787, Nguyễn Ánh từ Xiêm La trở về chiếm lại Gia Định. Sau đó tấn công ra Bình Khang, Diên Khánh, Quảng Nam, Quy Nhơn... Từ năm 1787 đến 1797, đã diễn ra hàng trăm trận đánh tàn khốc giữa quân Nguyễn và Tây Sơn. Đặc biệt trong trận vây thành Quy Nhơn, Nguyễn Ánh phải 3 lần đem quân tấn công mới chiếm được thành (1797), nhưng sau đó lại bị Trần Quang Diệu đem viện binh vào vây. Giữa lúc đó, ở phía Bắc vua Lê Chiêu Thống sang cầu viện nhà Thanh. Năm 1788, 20 vạn quân Thanh do Tôn Sỹ Nghị cầm đầu tiến vào nước ta. Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (1788), Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế lấy niêu hiệu là Quang Trung rồi dẫn đại binh thẳng tiến ra Thăng Long. Trong vòng chưa đầy 2 tháng, với mưu lược và tài cầm quân của một “thiên tài quân sự”, vua Quang Trung đã đánh tan 20 vạn quân Thanh. Chiều mồng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (30-1-1789),  vua Quang Trung kéo quân vào thành Thăng Long. Cũng từ đây, nội bộ nhà Tây Sơn bắt đầu rạn nứt. Lợi dụng tình hình đó, lực lượng Nguyễn Ánh ở Nam Bộ tấn công ra Phú Xuân rồi tiến ra Bắc, đánh bại hoàn toàn lực lượng Tây Sơn, thống nhất giang sơn về một mối.

Sau khi lên ngôi, mặt dù phải đối mặt với nhiều khó khăn do đất nước bị chia cắt và chiến tranh trong một thời gian dài, vua Gia Long đã cố gắng thực thi nhiều chính sách để khôi phục sản xuất, ổn định đời sống và tình hình xã hội. Đồng thời bắt tay vào việc xây dựng một nhà nước trung ương tập quyền mạnh. Những thành quả buổi đầu ổn định đất thời Gia Long đã đặt nền móng vững chắc cho quá trình xây dựng và tồn tại hơn một thế kỷ của vương triều Nguyễn. Trong bối cảnh lịch sử khá đặc biệt đó, đã xuất hiện nhiều nhân vật mà công lao và cuộc đời của họ đã in dấu đậm nét trong lịch sử vương triều Nguyễn nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung. Trong đó có vị “khai quốc công thần của vua Gia Long” - Tiền quân Nguyễn Văn Thành.

2.2. Bước đường hoạn lộ của Nguyễn Văn Thành

2.2.1. Giai đoạn phò tá chúa Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Ánh khôi phục vương quyền (1773-1802)

Năm 1775 quân Trịnh do Hoàng Ngũ Phúc chỉ huy đã vượt sông Gianh tấn công vào Phú Xuân. Quan quân chúa Nguyễn không chống nổi nên phải đưa gia quyến vào Quảng Nam, sau đó rời vào Gia Định. Với quyết tâm đánh tan lực lượng họ Nguyễn, quân Tây Sơn đã nhiều lần tấn công vào Nam Bộ. Chúa Nguyễn Phúc Thuần cùng Hoàng tôn Dương phải từng bước củng cố, xây dựng lực lượng để chống lại phong trào Tây Sơn.

Năm 1773, khi quân Tây Sơn đánh vào Bình Thuận, Long Hồ. Nguyễn Văn Thành lúc này mới 15 tuổi đã cùng cha ứng mộ đóng quân ở sông Cầu, theo Tống Phước Hợp đánh nhau với Tây Sơn. Trong một trận giao tranh với quân Tây Sơn, nhờ mưu trí, Nguyễn Văn Thành đã lập được công lớn, được “[Tống] Phước Hợp khen Thành ít tuổi mà khôn, thưởng 10 lạng bạc và một bộ áo sa” [70, 369]. Sau khi cha mất, ông tiếp tục theo phò tá chúa Nguyễn Phúc Thuần và được “Duệ tôn trao cho [Nguyễn Văn Thành] làm Cai đội, mộ quân ta 100 người thuộc quyền chỉ huy của khám lý Kỷ” [70, 369] cùng đi đánh giặc. Năm 1775, quân Tây Sơn vây đánh Sài Côn (Sài Gòn). Lực lượng chúa Nguyễn không chống đỡ nổi phải lui về Trấn Biên. Nguyễn Lữ làm chủ được thành Gia Định. Năm 1776, Đỗ Thanh Nhân mộ quân Đông Sơn từ Tam Phụ, Mỹ Tho tiến đánh thành Gia Định. Lúc này, Nguyễn Văn Thành đã chiêu tập 800 binh dũng theo Đỗ Thanh Nhân lấy lại Sài Côn, rước Định vương (Nguyễn Phúc Thuần) về lại Sài Côn lo việc phòng thủ. Nhờ lập được chiến công, nên “[Đỗ] Thanh Nhân cho Thành làm bộ binh tiên phong, theo tổng binh Nguyễn Văn Hoàng mở đất Trấn Biên. Khi giặc tiến đến, Thành cùng chư tướng đón đánh, chém được chưởng cơ giặc là Liêm trước trận. Thanh Nhân lại cho Thành làm phó Trung quân, theo đánh giặc ở sông Tứ Kỳ, giặc tan chạy” [70, 369].

Năm 1777, Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ đem thủy binh vào đánh Gia Định, “Thái thượng vương Thuần chạy qua Long Xuyên. Tân chánh vương Dương chạy đến Vĩnh Long. Cả hai điều bị quân Tây Sơn bắt giết” [83, 68]. Hậu duệ của chúa Nguyễn lúc này chỉ còn Nguyễn Ánh chạy thoát và tập hợp lại lự sau đó đã tập hợp lại lực lượng ở Long Xuyên. Năm 1778, được quân của Đỗ Thanh Nhân giúp, Nguyễn Ánh đã lấy lại được thành Gia Định, được suy tôn làm Đại nguyên súy nhiếp quốc chánh. Lúc này, Nguyễn Văn Thành đang theo Nguyễn Văn Hoàng đóng đồn ở Phan Lý, vua (Nguyễn Ánh) cho triệu Nguyễn Văn Thành về, từ đó ông tiếp tục theo phò tá Nguyễn Ánh.

Trong hai năm 1782-1783, quân Tây Sơn hai lần tấn công vào Gia Định. Lực lượng của Nguyễn thất bại nặng nề. Nguyễn Ánh phải lánh đi nhiều nơi, có khi ra tận đảo Côn Lôn, Phú Quốc và gặp không ít nguy nan:

Tháng 6, vua đóng ở hòn Điệp Thạch thuộc Phú Quốc. Thống suất giặc là Phan Tiến Thận thình lình đem quân đến. Cai cơ Lê Phúc Điển xin mặc áo ngự mà đứng đầu thuyền. Giặc tranh nhau đến bắt. Vua bèn đi thuyền khác ra đảo Côn Lôn... Tháng 7 Nguyễn Văn Huệ nghe tin vua ở đảo Côn Lôn, sai người đảng là phò mã Trương Văn Đa đem hết thủy binh đến vây ba vòng... Vua đến cửa biển Ma Li, dò thăm tình hình thực hư của giặc, gặp hơn 20 thuyền giặc bỗng đến vây chặt. Thuyền vua kéo buồm, nhằm hướng đông mà chạy, chơi vơi ngoài biển suốt bảy ngày đêm [73, 217].

Trong những ngày tháng gian truân đó, Nguyễn Văn Thành vẫn một mực trung kiên đi theo phò tá chúa, “từ Gia Định thất thủ, xa giá phải dời luôn, tòng thần là bọn Tôn Thất Huy, Tô Thất Hội, Đỗ Văn Hựu, Nguyễn Văn Thành... theo luôn, trên bộ thì khiêng kiệu, dưới nước thì buồm chèo; có khi trong thuyền hết lương, đến mấy ngày không được ăn” [73, tr.217].

 Mặc dù bị quân Tây Sơn truy đuổi ráo riết, nhưng Nguyễn Ánh vẫn không từ bỏ quyết tâm khôi phục cơ đồ của dòng họ. Đầu năm 1784, Nguyễn Ánh sang Xiêm La, Nguyễn Văn Thành không theo được, phải lui ở ẩn. Đến tháng 6 (1784), Nguyễn Ánh đem quân về Gia Định, Nguyễn Văn Thành đến yết kiến Nguyễn Ánh ở hành tại Trà Luật. Lúc đó, Nguyễn Ánh đã sai ông đi Bát Chiên và Quang Hóa thu họp dư chúng của quân Đông Sơn là nhóm Đặng Triệu. Đặng Triệu trước đây theo quân Nguyễn làm Tổng nhung. Năm 1780 bị quân Tây Sơn bắt làm Chưởng cơ, sau đó được quân Tây Sơn giao cùng đồ đảng chưởng Hùng, chưởng Tuy giữ đồn Bát Chiên. Nhờ có quen cũ nên Nguyễn Văn Thành đã thuyết phục được Đặng Triệu dẫn quân về với Nguyễn Ánh.

Năm 1785, Nguyễn Văn Thành theo Nguyễn Ánh sang Vọng Các (Xiêm La). Gặp lúc Xiêm đang bị Miến Điện đến đánh cướp, Nguyễn Ánh sai “Lê Văn Quân và Nguyễn Văn Thành đi trước, dùng ống phun lửa để đánh. Quân Diến Điện sợ chạy, chết không kể xiết” [73, 225]. Để tỏ lòng biết ơn, vua Xiêm muốn đem quân giúp Nguyễn Ánh thu phục lại Gia Định. Nguyễn Ánh đã họp các tướng để bàn, Nguyễn Văn Thành tâu rằng: “lính Xiêm tàn ngược không nên nhờ họ giúp, nếu hờ binh lực họ mà thành công lại có sự lo về sau. Sao bằng ta hãy yên tĩnh để đợi” [70, 370]. Lời tâu ấy hợp với tâm ý “nếu được Gia Định mà mất lòng dân thì ta cũng không nỡ làm” [73, 222]  của Nguyễn Ánh nên việc ấy bèn thôi.

Mùa thu năm 1787, Hà Hỷ Văn muốn quy phục theo quân Nguyễn. Nguyễn Ánh đã sai Nguyễn Văn Thành cùng Nguyễn Thái Nguyên đi đón Hà Hỷ Văn. Tuy nhiên, khi trên đường về thì gặp gió trái hướng, thuyền không đến chỗ đóng quân của Nguyễn Ánh được, phải đóng ở Hà Tiên. Lúc đó, quân hết lương ăn, Nguyễn Văn Thành đã đóng giả làm thuyền Tây Sơn đi tuần vào cửa biển để cướp lương, nhờ vậy đã bảo toàn được lực lượng. Khi Nguyễn Ánh từ Xiêm về đến hòn Cổ Cốt, Nguyễn Văn Thành đã dẫn Hà Hỷ Văn vào yết kiến vua.

Trong thời gian theo phò tá Nguyễn Ánh, mặc dù không ít lần nguy nan, khó nhọc nhưng Nguyễn Văn Thành vẫn luôn một lòng trung thành. Trong trận đánh ở Mỹ Tho, quân Nguyễn Ánh thất bại, có người bảo Thành nên về quê ở ẩn chờ thời cơ nhưng ông đã nói rằng: “nghĩa cả vua tôi sống chết vẫn đi theo, sự thành bại nhờ trời, ta đoán trước sao được, và nhân bị quở mà đi, nhân thua mà trốn phản phúc tiền nhân ta không làm như thế” [70, 372]. Sau đó, ông cùng Hà Hỷ Văn và những người khác vượt biển theo Nguyễn Ánh. Trên đường đi gặp phải bão to, cột buồm bị gãy, dạt vào bờ. Lúc đó, Nguyễn Văn Thành đã mượn thuyền và lương thực của dân tiếp tục vượt biển tìm theo Nguyễn Ánh nhưng không gặp. Nghe tin Tôn Thất Huy và Lê Văn Quân đang đóng quân ở Cồn Tính nên Nguyễn Văn Thành đã đi theo đến đây. Khi quân Tây Sơn vây Cồn Tính, chỉ còn một đường thoát duy nhất nên Tôn Thất Huy muốn lui quân, nhưng Nguyễn Văn Thành nói rằng: “giặc vây 3 mặc mà để khuyết một mặt là nó nhữ mình ra đấy, không bằng giữ cách đợi quân cứu thì là thượng sách” [70, 371]. Đến lúc thám thính quả nhiên như thế. Sau đó Tôn Thất Hội đem quân đến cứu, đánh tan được quân Tây Sơn rồi tất cả dời đến Ba Lầy. Sau đó, Nguyễn Ánh sai Lê Văn Quân và Tôn Thất Huy đánh úp lấy được Trấn Định, rồi cho Nguyễn Văn Thành cùng Thôn Thất Huy giữ đất ấy.

Năm 1789, sau khi lấy lại được Gia Định, Nguyễn Ánh “triệu Thành về cho thăng chức Trung quân tiền chi Tổng nhung Cai cơ, quản tướng sỹ tuần hai đô doanh, giữ đồn Giác Ngư” [70, 372]. Ông cho sữa hào lũy, nuôi binh, mùa thu, mùa đông đi tuần biển, mùa xuân, mùa hạ lại về giữ đồn.

Năm 1791, Lê Văn Quân xin Nguyễn Ánh phát binh đi đánh chiếm Bình Thuận, Nguyễn Văn Thành bàn rằng: “mới lấy được Gia Định dân tâm chưa bền, phòng thủ chưa chu đáo nếu không tính thế bên mình, bên địch chỉ tấn công một sớm một chiều lấy đồn dễ mà giữ thì rất khó, chả gì bằng ta trước ta lập cái thế không thua, nuôi sức chờ thời cơ thì cả một dãi sông Ranh trở vào Nam có thể đánh một trận mà khôi phục được” [70, 372]. Tuy nhiên, Nguyễn Ánh vẫn quyết định cho Lê Văn Quân làm điều bát, Võ Tính làm làm chánh tiên phong, Nguyễn Văn Thành làm phó tiến đánh Bình Thuận. Nhưng biết Quân và Tính không hợp nhau, sợ lỡ việc nên đã gọi Nguyễn Văn Thành đến và dụ rằng “ngươi khéo điều đình để khỏi lầm lỡ. Lần này đi công tội ngươi cùng Quân đều chịu trách nhiệm, cố gắng đi nhé” [70, 372]. Nguyễn Văn Thành lạy nhận lời sau đó điều binh tiến đánh và lấy được Phan Lý.

Năm 1792, Nguyễn Ánh thân chinh đi đánh thành Quy Nhơn. Nguyễn Văn Thành đem hơn 30 chiến thuyền làm tiên phong cùng chư tướng đánh thẳng vào cửa Thị Nại, đốt phá thuyền, làm tiêu hao sinh lực của quân Tây Sơn rất nhiều. Mùa thu năm đó, Nguyễn Văn Thành được phong làm Quản tiền phong doanh. Năm sau (1893), Nguyễn Ánh lại đem quân tiến đánh Quy Nhơn lần hai. Nguyễn Văn Thành được cử làm Khâm sai Bình tây Tiền tướng quân cùng với Tôn Thất Hội, Nguyễn Hoàng Đức đem bộ binh đi trước. Khi quân của Nguyễn Văn Thành đến Bình Thuận, Diên Khánh, đã đánh nhau với quân Tây Sơn rất dữ dội, cuối cùng bộ binh Nguyễn Văn Thành cũng đến được Bình Định, hội cùng thủy quân của Nguyễn Ánh vây đánh Quy Nhơn. Do lực lượng của Nguyễn Ánh quá mạnh, Nguyễn Nhạc không chống nổi phải sai người ra Phú Xuân cầu viện. Vua Cảnh Thịnh liền cho đại quân vào cứu Quy Nhơn. Để đối với với viện binh, “vua [Nguyễn Ánh] sai Nguyễn Văn Thành thống lĩnh hơn 8.000 quân các vệ tiến Bến Đá, chia đóng ở các ngả đường trọng yếu Sa Lung và Hôn Cốc, Đô đốc Nguyễn Kế Nhuận đem chi Hùng Võ, Nguyễn Công Thái đem chi Hiệu Trung, đều theo Thành điều khiển... và dụ rằng: việc đánh giặc Quảng Ngãi giao cả cho khanh” [73, 297]. Nhận thấy viện binh hùng hậu, theo lệnh của Nguyễn Ánh, Nguyễn Văn Thành dẫn quân theo đường bộ đến Thị Nại họp lại với thủy quân rồi rút về Phú Yên. Lúc bấy giờ mọi người bàn tán nhau rằng, quân giặc (Tây Sơn) sắp kéo đến nơi, nhưng Nguyễn Văn Thành đã nói rằng: “Quy Nhơn (Nguyễn Nhạc), Thuận Hóa (Nguyễn Huệ) trong thân ngoài cừu thù tiếng gọi là đến cứu, thực là đến đánh lấy nhau, Nhạc tự cứu không nổi, còn lúc nào đuổi ta, trước Viên thiệu cứu Viên Thuật mà rồi kiềm tính Viên Thuật, thế giặc ngày nay cũng giống thế đấy” [70, 373-374]. Đúng như lời nhận định của Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Nhạc sau đó đã bị Nguyễn Văn Hưng (tướng của Nguyễn Huệ) bức hiếp thổ máu mà chết.

Nhận thấy địa thế Diên Khánh hiểm trở, Nguyễn Ánh đã cho đắp thành Bình Khang, Diên Khánh và lưu Nguyễn Văn Thành ở lại giữ. Mùa đông năm ấy (1893), Nguyễn Ánh triệu Nguyễn Văn Thành về Gia Định và cho Đông Cung Thái tử đến giữ thành Diên Khánh. Năm sau (1794), quân Tây Sơn vây thành Diên Khánh. Nguyễn Văn Thành được lệnh đem quân đến cứu, trên đường đi gặp  giặc Tề Ngôi[7] liền tiến đánh và đuổi được giặc đi. Sau đó, ông dẫn quân lên bộ tấn công thành Diên Khánh, quân Tây Sơn thấy có viện binh nên đành phải rút lui. Đến mùa đông, tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu lại đưa quân vào vây thành Diên Khánh. Nguyễn Ánh nghe tin đã phát 3.000 binh sai Thành đi giữ Bình Thuận, nhưng Nguyễn Văn Thành nói rằng: “quân giặc nhiều, Bình Thuận lại là nơi tứ chiến không cho tôi 5000 quân không giữ được” [70, 374]. Nguyễn Ánh bèn giao cho Nguyễn Huỳnh Đức làm điều bát, Nguyễn Văn Thành làm phó dẫn quân đi cứu Bình Thuận. Khi quân Nguyễn đến Phan Rý, bị quân Tây Sơn tấn công dữ dội phải lui về giữ Bà Rịa. Đến năm 1795, Nguyễn Ánh thân chinh đi cứu Bình Thuận, Nguyễn Văn Thành đi theo và lấy được thành. Lúc đó, Nguyễn Ánh đã sai ông tuyển lính ở các phủ Bình Khang, Diên Khánh, Bình Thuận bổ vào các vệ hiệu.

Năm 1797, Nguyễn Ánh đem quân tiến đánh Quảng Nam. Nguyễn Văn Thành cùng Vũ Tính đem bộ binh tiến đến Phú Yên đánh nhau với quân Tây Sơn ở chợ Hội An, lấy được cả hai đồn La Thái và Hội An. Năm đó, Nguyễn Ánh “trao cho Thành làm Khâm sai Chưởng tiền phong doanh Chưởng cơ Bình tây Tiền tướng quân, lưu trấn Diên Khánh”, “Thành ngoài vỗ yên nhân dân, trong sửa chiến bị, lại yên dân vách” [70, 375].

Năm 1798, giặc biển Tề Ngôi lại quấy rối, Nguyễn Văn Thành đặt kế bắt được nhờ vậy đường biển được yên. Trong lúc quân Nguyễn Ánh và Tây Sơn đang tranh nhau vùng Quy Nhơn-Quảng Nam, nhằm phản gián quân Tây Sơn và tăng thêm thế cho quân Nguyễn, Nguyễn Văn Thành đã cùng Đặng Trần Thường dâng sớ đề nghị Nguyễn Ánh thông sứ với nhà Thanh và được Nguyễn Ánh cho thực hiện. Mùa đông ấy, Nguyễn Ánh triệu Nguyễn Văn Thành về và trao cho ông chức Khâm sai Chưởng tiền quân Chưởng cơ.

Năm 1799, Nguyễn Ánh lại đánh Quy Nhơn. Nguyễn Văn Thành tiến quân đánh nhau với quân Tây Sơn ở đồn An Mỹ, thu phục được Phú Yên. Sau đó tiếp tục tiến quân đến đóng ở Vân Sơn, rồi hội quân cùng Võ Tánh đánh thành Quy Nhơn. Võ Tánh đóng quân ở phía Bắc, Nguyễn Văn Thành đóng quân ở phía Đông Nam, khi quân Tây Sơn tấn công phía Đông Nam, Nguyễn Văn Thành ra kỳ binh chặn ngang, quân Tây Sơn phải bỏ chạy. Sáng hôm sau, quân Tây Sơn lại đánh Đông Bắc nhưng Võ Tánh đón đánh phá được. Lúc này, Nguyễn Văn Thành thấy thế giặc đã cùng nên tính kế bức bách địch, chia binh giáp đánh, chém được 100 người. Quân Tây Sơn phải rút lui vào thành cố thủ, ông tiếp tục cho quân đánh đồn Cây Sung và lấy được thành Quy Nhơn. Được tin Quy Nhơn thất thủ, vua Cảnh Thịnh sai Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng đưa quân vào cứu Quy Nhơn. Lúc đó, Nguyễn Ánh đã sai Nguyễn Văn Thành chặn đường quân cứu của Tây Sơn. Để tăng thêm binh lực cho Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Ánh đã cho tướng sỹ hai doanh hữu quân tiên phong theo Nguyễn Văn Thành điều bát. Nguyễn Văn Thành còn mộ lập quân Thuận Hóa mới quy hàng 60 người, lập làm hai đội là đội Lôi Tùy và đội Điện Tiệp để tăng cường lực lượng. Khi quân của Trần Quang Diệu vào đến Quảng Ngãi thì gặp đại quân của Nguyễn Văn Thành, hai bên đánh nhau suốt 5 ngày không phân thắng bại. Nguyễn Ánh liền tiến quân đến Thạch Tân giúp sức, Trần Quang Diệu phải thu quân về Quảng Ngãi, không đến cứu Quy Nhơn được. Nguyễn Ánh làm chủ được thành Quy Nhơn, đổi tên gọi là thành Bình Định, lưu Võ Tánh và Ngô Tùng Chu ở lại trấn thủ.

Năm 1800, “Diệu bèn sai người ra Trà Khúc lấy binh của Nguyễn Văn Giáp và hợp sức với trấn thủ Quảng Nam là Nguyễn Văn Lộc, tìm mưu phá đường vào Quy Nhơn” [83, 176]. Võ Tánh kéo quân vào thành cố thủ.

Năm 1801, hay tin thành Bình Định bị vây, Nguyễn Ánh sai Nguyễn Văn Thành được lệnh điều bát bộ binh các đạo đến cứu, còn mình thì chuẩn bị thủy quân để phối hợp giải vây thành. Ở phía Nam, tướng Tây Sơn Nguyễn Quang Huy nghe tin bèn bỏ Phú Yên ra hợp sức đánh Quy Nhơn. Lúc này, “Nguyễn Văn Thành ở Diên Khánh được tin Phú Yên bỏ trống liền đem quân ra chiếm đóng, rồi sẵn đường kéo thẳng ra Quy Nhơn” [83, 172]. Nguyễn Quang Huy bày quân từ Phú Yên ra ngoài hơn 90 sở đánh nhau với Nguyễn Văn Thành, ông chia quân đánh ở mặt trước, Nguyễn Ánh cho Nguyễn Huỳnh Đức mở cửa thành kéo quân ra tiếp ứng mặt sau, quân của Nguyễn Quang Huy bị đánh tan rã. Nguyễn Văn Thành tiến đánh lấy đồn Hội An, rồi tiến quân qua núi Ải Thạch đánh đuổi quân Tây Sơn đến núi Ngư Cốt, quân Tây Sơn phải lui giữ La Thai. Nguyễn Văn Thành lại chia quân làm 2 đạo đánh úp đồn, quân Tây Sơn vỡ chạy, ông bắt sống được đô đốc Đào Công Giản, thu được một thớt voi chiến và súng khí giới vô kể. Tin thắng trận báo đến nơi, Nguyễn Ánh khen rằng: “dẫu chưa bắt hết được quân hung bạo, cũng là toàn thắng. Thực bởi đại tướng khéo dụng binh, chư quân vui vẻ anh dũng, ta rất khen tốt” [70, 378] và ban cho Nguyễn Văn Thành 5 ngự bài để “sai người bảo việc quân cho cầm bài này làm tin, tình trạng trong quân 3 ngày một lần báo việc khẩn cấp thì lập tức báo ngay”. Sau đó, Nguyễn Văn Thành lại tấn công đồn Chú Sơn, sai đào hố ở phía trước thành rồi đặt thuốc súng làm kế địa lôi. Đến lúc hai bên giáp tranh, Nguyễn Văn Thành cho phóng hỏa tiếng vang như sấm, thành Quy Nhơn bị lở vài trượng, quân Tây Sơn đem hết lực lượng cố giữ nên quân Nguyễn vẫn không phá được thành.

Để giải vây cho thành Quy Nhơn, Nguyễn Văn Thành đã dùng người Man hướng dẫn địa thế của thành Quy Nhơn. Nhờ vậy, ông đã tìm được đường có thể đánh úp sau lưng thành phía Tây Nam. Sau khi tìm được đường, Nguyễn Văn Thành đã vẽ địa hình dâng lên Nguyễn Ánh và xin thêm quân để đánh. Nguyễn Ánh sau khi xem biểu đã mừng rỡ nói rằng: giặc ở trước mắt ta. Sau đó, sai Tống Viết Phước và Lê Văn Duyệt đem quân đến Đồng Cậy theo Nguyễn Văn Thành tiết chế. Nguyễn Văn Thành dẫn binh qua núi Bột Khê chạy hơn 200 dặm xông mưa mà tiến, quanh ra đằng sau lưng giặc phóng hỏa đốt trại. Ở mặt trước, Lê Văn Duyệt thừa thắng giúp đánh, quân Tây Sơn không chống được phải bỏ chạy. Nguyễn Văn Thành “lại đánh các đồn giặc ở Sinh Đàm, Sơn Trà đều lấy được cả. Bởi thế tự núi Lê Thạch đến Hoa An, Hoa Lộc giặc đều bỏ trốn đi ban đêm, quân ta tiến đóng Vân Sơn” [70, 380].

Khi Nguyễn Ánh chuẩn bị đánh hỏa công vào Thị Nại thì cho người mật bảo với Thành rằng: “đấy là chữ Hỏa trong bàn tay ta vậy”. Rồi sai Nguyễn Văn Thành chia quân ban đêm đánh úp quân Tây Sơn, khiến cho Tây Sơn lo chống giữ trên bộ để thủy binh Nguyễn Ánh dễ dàng tấn công của biển Thị Nại. Trước sức mạnh của thủy quân Nguyễn Ánh, tướng Tây Sơn Võ Văn Dũng phải lên bộ trốn chạy. Lúc này, Nguyễn Văn Thành lập tức chia quân đánh giữ các đồn Vân Sơn, Phú Trung, “chém được đô đốc giặc là Nguyễn Hạch, bắt được 2 thớt voi, súng, khí giới vô kể” [ 70, 381]. Nguyễn Ánh lại điều thêm quân ở Gia Định đến Vân Sơn hỗ trợ Nguyễn Văn Thành, ông chia quân làm 3 đạo cùng thủy binh đánh chiếm được đồn Lão Miễn, quân Tây Sơn phải lui giữ đồn Bình Thịnh, hơn một tuần không dám động.

Khi nhận thấy đại binh của Quang Toản đang tập trung ở Quy Nhơn, Nguyễn Ánh quyết định tiến quân đánh Phú Xuân. Trước khi đem quân ra Phú Xuân, Nguyễn Ánh đã giao cho Nguyễn Văn Thành điều bát bộ binh các đạo chống nhau với quân Tây Sơn ở Bình Định và dụ rằng: “thành bại cùng ở một lần này, Quy Nhơn trở về Nam, ngươi nhận lấy trách nhiệm, Diệu Dũng dẫu không phải là địch thủ với ngươi, nhưng quân nhiều quân ít thế khác nhau, ngươi phải vì ta mà thận trọng nhé” [70, 382].

Tháng 5 năm ấy, Nguyễn Ánh lấy được Phú Xuân, Quang Toản chạy ra Bắc, quan quân Tây Sơn đem nhau ra quy hàng. Nguyễn Ánh sai Lê Văn Duyệt, Tống Viết Phước đem quân vào Bình Định hội đánh với Nguyễn Văn Thành, rồi sai sứ đem sắc ấn đến trao cho Nguyễn Văn Thành làm Khâm sai Chưởng tiền quân Bình tây đại tướng quân, tước Quận công. Năm 1802, Nguyễn Văn Thành cùng Lê Văn Duyệt tiến đánh Bình Định, “Thành tự đốc tướng sỹ đánh giặc gần 7 ngày đêm liền lấy được hơn 20 đồn, lại đem quân qua sau sông Gianh đánh thắng giặc ở Kỳ Sơn” [70, 385]. Quân Tây Sơn bị chết rất nhều và hết lương, Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng phải bỏ thành Quy Nhơn theo đường núi chạy ra Bắc, Nguyễn Văn Thành thu quân hàng hơn 3.000 người.

Tháng 5 năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Gia Long rồi đem quân ra đánh Bắc Thành. Đến tháng 7 thì Gia Long lấy được đất Bắc, vua Bửu Hưng cùng cung quyến bị giải về Thăng Long. Đến đây, triều Tây Sơn hoàn toàn bị đánh đổ, chấm dứt tình trạng chiến tranh, chia cắt kéo dài hơn 30 năm. Sự nghiệp khôi phục vương triều của Nguyễn Ánh đã hoàn thành, giang sơn từ đây thu về một mối. Đất nước bước vào thời kỳ “yên bình thịnh trị” dưới sự cai trị của vị vua đầu triều Nguyễn - vua Gia Long.

2.2.2. Giai đoạn làm quan dưới triều Nguyễn (1802-1817)

-  Giai đoạn làm Tổng trấn Bắc Thành (1802-1810)

Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, Gia Long quản lý một vùng lãnh thổ rộng lớn từ Bắc vào Nam. Tuy nhiên trong buổi đầu trị vì, tình hình chưa ổn định nên chính quyền Trung ương chỉ trực tiếp quản lý khu vực từ Thanh Hóa vào Bình Thuận. Ở phía Bắc từ Ninh Bình trở ra, đặt làm Bắc Thành bao gồm 5 nội trấn là: Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương và 6 ngoại trấn là: Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên và Quảng Yên (tương đương với Bắc bộ ngày nay). Ở phía Nam lập Gia Định Thành gồm 5 trấn, dinh.

Khi lấy được Bắc Thành, Gia Long nghĩ: “Bắc Hà mới định, dân vật đổi mới. Thăng Long lại là trọng địa của Bắc Thành, nên được trọng thần để trấn thủ... bèn cho [Nguyễn Văn] Thành làm Bắc Thành Tổng trấn, ban cho sắc ấn trong ngoài 11 trấn đều thuộc cả, các việc truất nhắc quan lại xử quyết việc án điều được tiện nghi làm” [70, 386], với lời dụ rằng: “việc Bắc Thành đều giao cho ngươi cả”.

Để ổn định tình hình ở Bắc Thành, việc làm đầu tiên mà Tổng trấn Nguyễn Văn Thành cho thực thi là phủ dụ trăm họ, chiêu dụ hào kiệt, thu phục nhân tâm để cùng xây dựng đất nước. Từ đó, những hương cống, tiến sỹ đời Lê như: Bùi Huy Bích, Phạm Quý Thích, Lê Huy Trâm, Nguyễn Du... được thu dụng và bổ vào các chức quan ở các phủ, huyện. Vua Gia Long cũng đồng tình với việc ấy và dụ rằng: “nay, ngụy đảng đã dẹp yên...nhân tài trong thế gian lẽ nạo lại để cùng cây cỏ mục nát?...mọi người nên truyền bảo cho nhau, tùy theo hạn định, hành trình xa gần mà định liệu...đến hành tại để đợi lệnh của Thành Quận công...thử việc làm của từng người mà tùy tài sủ dụng” [105, 81]. Nhờ vậy tình hình Bắc Hà ngày càng ổn định, ai nấy đều vui làm việc.

Năm 1803, Nguyễn Văn Thành cùng Nguyễn Văn Khiêm, Phạm Như Đăng và Đặng Trần Thường dâng sớ lên Gia Long tâu rằng:

Bắc Thành từ cuối dời Lê tới đây, quyền cương đảo lộn, chính sự trễ tràng, bọn hào hữu vũ đoán trong làng xóm, dân phong ngày thêm điêu bạc, kiện tụng rối bời, trộm cướp tứ tung. Lại bị Tây Sơn bạo ngược... Bọn thần trộm nghĩ rằng nhà vua phát chính thi nhân, trước hết là ở việc chia ruộng cấp lộc. Điền chế có thi hành thì quan mới có thường lộc, dân mới có thường sản, sẽ không có cái lo về bọn nào hữu kiêm tính nữa...lại lượng giảm tô dung, để tỏ ân tín, khiến lòng dân mừng phục [73, 555].

Sau đó ông lại xin vua Gia Long cho làm 3 điều:

1. Chỉnh sửa hộ tịch để tiện quản cấp công điền

2. Xét số đinh để rõ số dân

3. Chọn hiền tài để bổ làm quan chức

Vua Gia Long sau khi xem các bản sớ của Nguyễn Văn Thành xong bảo rằng: Trẫm sẽ thong thả bàn, lần lượt thi hành.

Nhằm từng bước ổn định đời sống nhân dân, chấn chỉnh hoạt động của bộ máy nhà nước ở Bắc Thành. Tổng trấn Nguyễn Văn Thành đã đề ra một số quy định cụ thể đối với một số việc:

- Việc chia đinh và chia điền: “số nhân đinh và số ruộng chiếu theo sổ đinh và sổ ruộng năm Canh Tuất (1790) mà thi hành” [105, 94].

- Việc tuyển lính: “Tuổi lính hạn lấy đến 60. Gia đình nào có người đào ngũ thì phân suất cho các quan tư trình lên bộ Binh, bắt người nào trai tráng khỏe mạnh trong đám vợ con, cha mẹ, anh em, họ hàng người đó thay vào” rồi “quyết định 4 tháng một kỳ, các xã dân phải làm sổ sách binh lính” [105, 94; 100].

- Việc thu nộp thuế  khóa: “thu nạp bao nhiêu tiền thuế, phải làm hai biên lai, đưa cho người nộp một bản, người nắm quyền giữ một bản làm bằng, để đề phòng việc kiện tụng” [105, 94-95]. Các xã thôn được biệt nạp các hạng thuế lệ thì cứ chiếu theo số đinh trong xã mà làm bảng kê khai từng loại, từ đó trở đi cứ theo lệ đó mà làm.

Ngoài ra, làng xã nào có người Tàu hoặc người thổ đến trú ngụ thì phải khai báo. Địa phương nào có trộm cắp hoặc thiên tai thì hàng tháng phái báo lên phủ huyện. Bên cạnh đó, ông đã đặt các chức quan Tuần trấn và Tuần tổng để phòng ngừa trộm cắp. Nhờ vậy, đời sống ở Bắc Hà ngày càng đi vào ổn định.

Tháng 9 năm ấy (1803), giặc Tề Ngôi vào đánh cướp ở Quảng Yên. Tổng trấn Nguyễn Văn Thành đã chia binh đánh dẹp. Sau đó, đích thân đi kinh lược Hải Dương, Quảng Yên, xem xét hình thể để làm cơ sở đặt lỵ sở, các đồn để mưu đặt việc quân. Trước đó, vào tháng 2 năm ấy ông đã đi kinh lược các trấn để dập tắt bọn trộm cướp, làm yên lòng dân và khảo xét quan lại địa phương. Bằng những biện pháp cứng rắn và tích cực đó, Nguyễn Văn Thành đã từng bước ổ định tình hình chính trị ở Bắc Thành.

Tháng 12 năm 1802, Nguyễn Văn Thành tổ chức lễ tế để truy điệu các tướng sỹ trận vong đã từng theo Nguyễn Ánh bình quân Tây Sơn. Ông còn sai thợ khắc in Thánh dụ quản huấn và cho lấy sách Hiếu kinh diễn nghĩa làm thành bài Dụ quản huấn sai thợ khắc in ban hành, sách được lưu ở Quốc Tử Giám. Rồi lệnh cho các nha viên ở các trấn, phủ, huyện và các Giám sinh, sinh đồ đúc bài văn ấy vào chuông, khánh treo ở các Văn miếu sở tại.

Năm 1804, Nguyễn Văn Thành cho sửa sang lại thành Thăng Long, tu bổ Văn Miếu Quốc Tử giám. Cũng vào năm này, vua Gia Khánh sai sứ sang phong vương cho Gia Long. Nguyễn Văn Thành đã được vua giao việc thọ nhận sắc phong của nhà Thanh. Khi Gia Long triệu Nguyễn Văn Thành đến dụ việc kinh lý Bắc Thành, Nguyễn Văn Thành “liền xin chuẩn định học quy đặt thêm học giáo để chỉnh đốn sỹ tập, đúc nuôi đa sĩ” và xin Vua “những tướng hiệu trước đóng thú ở Bắc Hà thì con em ở Gia Định xin cho miễn binh đao” [70, 386-387], Gia Long đều cho làm theo những lời xin ấy.

Năm 1805 Nguyễn Văn Thành cho dựng Khuê Văn Các ở học đường phủ Hoài Đức, bên ngoài giếng vuông trước cửa Văn Miếu. Năm 1806, ông cho xét vùng cương giới Hưng Hóa và sự tích 6 mường lớn để tâu lên vua Gia Long. Đồng thời,  xin vua Gia Long cho người đưa thư cho Tổng đốc nhà Thanh, đề nghị lập hội đồng định rõ cương giới vùng Tây Bắc giữa ta với nhà Thanh. Tuy nhiên, Gia Long “chưa rỗi làm việc ngoài biên.. không trả lời” [70, 387]. Mùa đông năm ấy, ông vào Kinh chầu vua Gia Long, trong dịp này ông đã dâng lên vua địa đồ nội ngoại 11 trấn và các phủ, châu, huyện tổng cộng 164 bản.

Để chấn chỉnh bộ máy quả lý làng xã Bắc Thành, ông cho các xã sở tại “bãi chức Tuần tổng để đặt chức Hương hào. Lệnh cho các nơi đều lấy người bản xứ để giữ chức ấy, vì cho rằng chỉ những người ấy mới biết rõ đầy đủ về bọn trộm cướp, hay nội tình của bọn ngụy ở nơi đó” [105, 154]. Sau đó, lại bãi bỏ chức Hương hào, đặc các chức Chánh và Phó trưởng tổng, Chánh tổng kiểm soát việc gian phỉ, còn Phó tổng thì đốc thúc việc điều lương thực, thu thuế má.

Năm 1807, Nguyễn Văn Thành lại dâng sớ lên vua Gia Long tâu bày 4 việc:

1. Đặt kinh điển

2. Định luật mới

3. Đặt sử quán để sửa quốc sử

4. Đặt ngự sử để nghiêm điển chương triều đình

Năm 1808, các trấn ở Bắc Thành trộm cướp nổi lên rất nhiều. Trước tình hình đó, quan Tổng trấn liền sai thuộc tướng chia đường tiến đánh, lớn nhỏ 36 trận mới dẹp yên. Nhờ lập được công lốn, ông được vua ban thưởng 20.000 quan tiền. Cũng vào thời gian đó, một số nhân sỹ bất mãn ở Bắc Hà lại mượn cớ “phò Lê” để cổ động dân chúng, chống lại tân triều. Dân gian lại lan truyền bài hát “tố khuất”, đổ lỗi cho quan lại tham nhũng nên dân mới làm loạn. Nguyễn Văn Thành đã sai Trần Hựu soạn “điểm mê khúc” rồi sai quan địa phương sở tại đi hiểu dụ, dân tình mới được yên. Ông cùng 3 tào làm sớ bày sự nghị 5 điều:

1. Dẹp cướp yên dân

2. Truy tôn việc thờ cúng

3. Tăng lương quan lại để nuôi liêm

4. Định niên khóa để xét công quan lại

5. Thông hành tiền Gia Hưng cho dân dùng được thừa thải.

 Tất cả các lời tâu ấy của Nguyễn Văn Thành đều được cho thi hành. Mùa đông năm ấy, ông lại làm biểu xin thu dụng những người đã bị cách chức[8] và dâng sách Đại học diễn nghĩa đem nộp bản in vào nhà Quốc học.

Năm 1809, Bắc Thành gặp nạn đói. Nguyễn Văn Thành đã dâng sớ tâu rằng: “nước lấy dân làm gốc, dân lấy ăn làm trời, nay các trấn sau khi bị thiên tai dân khổ nạn ngày quá, xin chẩn thái để cứu đau khổ cho dân” [70, 388]. Tất cả lời tâu của ông đều vua đều nghe theo cả.

- Giai đoạn làm quan ở kinh đô Huế (1810-1817)

Năm Gia Long thứ 8 (1809), thân mẫu của Nguyễn Văn Thành qua đời, gặp lúc Bắc Thành bị nạn đói, nên ông xin cuối năm mới đưa quan tài về quê chôn. Đầu năm 1810, xe tang vào đến Kinh thành Phú Xuân, Nguyễn Văn Thành vào chầu vua Gia Long, xin đem tang mẹ về chôn ở Bình Hòa. Vua Gia Long an ủi hồi lâu, rồi cấp cho 500 quan tiền để lo hậu sự và khuyên rằng: “Cáo chết quay đầu về núi, lẽ là vậy, làng Bác Vọng phủ Triệu Phong là tổ quán ngươi, sao không đem về táng ở đấy” [70, 388]. Nguyễn Văn Thành nghe theo lời vua, không đưa mẹ về Bình Hòa nữa mà an táng tại Huế. Sau khi an táng mẹ xong, Nguyễn Văn Thành dâng biểu xin ở nhà 3 năm để tang mẹ, Gia Long xuống chiếu khen cho tấm lòng hiếu thuận của ông nhưng không cho ở nhà. Từ đó, Nguyễn Văn Thành ở lại làm quan ở kinh đô Phú Xuân cho đến cuối đời.

Trong thời gian làm quan ở kinh đô Huế, ông dâng sớ đề nghị vua Gia Long
3 điều:

1. Đặt lại phép thưởng phạt các quan phủ huyện, ai có công thì gia cấp, thêm bổng, ai có tội thì giáng cấp phạt bổng cho biết khuyên răn.

2. Xác định 3 năm làm 1 khóa, quan phủ huyện 3 năm không có lỗi điệu bổ chức khác. Đến 6 năm mới xét giỏi kém định thăng chức.

3. Ở Bắc Thành những châu thế ở ven sông, dân nhiêu tranh từng gây thanh ngục tụng, xin định làm điều lệ.

Sau đó, ông lại tâu 4 điều:

1. Thuộc lại các địa phương lệ mộ dân ngoại tịch sung bổ phẩm hiệu không có căn cước, họ dễ trốn tránh. Xin tự nay có khuyết không cứ nội ngoại tịch nhận người có sản nghiệp ấy sung làm thuộc lại.

2. Bắc Thành có các mỏ đồng, mỏ Tụ Long là tốt nhất, tự mỏ ấy đóng cửa, dân gian bèn có cái bệnh khan tiền, xin lại cho khai mỏ ấy khiến cho tài nguyên không lập, quốc dụng thường thừa thải, đấy cũng là một đạo sinh tài.

3. Lệ thuế cửa tuần bến đò đã có định nghạch, gần đây nghe sở tại nhiều nơi lấy thuế bậy, xin thân minh điều cấm để hại người buôn.

4. Bắc Thành 5 nội trấn đã đổi sổ thường hành mà ngoại 6 trấn cùng Thanh Nghệ vẫn chưa đổi. Cũng nên phen cải chính.

Những nội dung trên đều được Vua Gia Long sai đình thần thi hành.

Năm 1811, vua sai đình thần soạn định luật lệ, Nguyễn Văn Thành được sung làm tổng tài cùng Trần Hựu và Vũ Trinh phụ trách việc biên soạn. Đến năm 1812, bộ Hoàng Việt luật lệ được hoàn thành, gồm 398 điều. Bộ luật được dâng lên vua, Gia Long đích thân xem và viết lời Tựa, sau đó cho ban hành và áp dụng trong cả nước.

Mùa Đông năm ấy, quân Xiêm đưa quân đến đóng ở Bắc Tầm Bôn uy hiếp Chân Lạp, Nặc Ông Chân cho sứ thần sang Gia Định đề nghị giúp đỡ. Vua Gia Long triệu họp quần thần để bàn, Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Thành cho rằng: “Xiêm cùng ta kết hiếu, nay mở binh đao lợi hại không nhỏ, xin hạ lệnh cho quan thành Gia Định sai một người tướng ở ngoài biên đi tuần xem hư thực rồi sau tâu lên” [70, 390]. Vua cho lời bàn ấy là phải, liền giao cho Nguyễn Văn Thành làm Chưởng Trung quân để thương dụ về sự nghi biên thùy. Sau khi xem xét tình hình, ông dâng sớ đề nghị vua Gia Long:

Đặt binh ở trong nông dân, xin chọn dân nội tịch cường tráng làm lính, dần làm chi hiệu, chọn người có công cũ làm quản suất, vô sự thì làm ruộng, có sự thì trưng phát làm lính... Về chọn tổng binh, xin chọn dân trong sổ đinh, một phân tám đặt làm đội ngũ cùng chọn người có chiến công làm cai quản, mỗi một lính thì 7 người dân phụng dưỡng, hàng năm nộp tiền ở trấn, chia kỳ hiệu phát, mỗi trấn lập một quân xá cho lính thường đóng ở đấy, tháng cấp tiền lương cho được thông thuộc liền nhau, thao luyện cho tốt để đợi khi dùng đến [70, 390].

 Cũng vào dịp này, ông dân lên vua Gia Long sách Vũ bị chí và Tứ di loại chí. Trong dịp lễ ninh lăng Hiếu khang Hoàng thái hậu, ông cùng Nguyễn Văn Nhân, Phạm Huỳnh Đức được sung làm Tổng hộ sứ, ông đã dâng sớ xin 6 điều:

1. Sớm dựng Thái tử để trấn nhân tâm

2. Xin đem luật thư giao đem ban hành để rõ pháp kỷ

3. Xin tuyển Nho thần để sung làm sử

4. Khai trương hương thí để cổ động sĩ tử

5. Xin các quan ty làm xong án để chậm

6. Chế phục nước láng giềng để yên cõi biên

Vua đều cho làm phải và ra lệnh thực thi hành những nội dung ấy.

Không lâu sau ông được sung làm Quốc sử Tổng tài, phụ trách việc soạn quốc sử.

Năm 1813, Nguyễn Văn Thành được vua Gia Long giao việc trông coi xây dựng đồn Điện Hải ở Quảng Nam (đến năm 1823, vua Minh Mạng cho dời đồn Điện Hải vào bên trong đất liền, trên một gò đất cao và đến năm 1835 đổi tên là thành Điện Hải. Thành Điện Hải là đồn lũy quan trọng góp phần đánh bại cuộc tấn công của thực dân Pháp vào Đà Nẵng những năm 1858 - 1860).

Năm 1814, Nguyễn Văn Toại vốn được vua Gia Long giao trách nhiệm bảo hộ nước Chân Lạp, Toại dựa vào quyền lực “làm việc nhiều chuyên quyết, phiên vương ngờ sợ”, vua Gia Long đã cho triệu đình thần họp bàn, Nguyễn Văn Thành tâu rằng: “Chân Lạp làm thuộc quốc ta, nhiều đời sữa lễ cống, nay nước ấy nhỏ yếu, liền sai lũ Thoại đóng riêng ở La Bích, cho Nặc Chân tự làm mọi việc thì lòng dân nước ấy sẽ yên” [70, 392]. Vua nghe theo và ra lệnh cho Nguyễn Văn Toại không được can dự sâu vào việc của Chân Lạp.

Sự nghiệp của Nguyễn Văn Thành đang ở đỉnh cao thì xảy ra vụ án văn chương năm 1815 khiến ông phải uống thuốc độc tự vẫn, con trai ông là phò mã Nguyễn Văn Thuyên bị xử chém. Năm 1832, con ông là Nguyễn Văn Hàm lại theo Lê Văn Khôi nổi dậy chiếm thành Phiên An, bị “vua sai bắt cả thân thuộc lũ con Thành là Thần, Nhâm, Chuân, Huyền, Hân đều phải tội bị giết” [70, 395]. Từ hai sự việc trên đã khiến gia đình, dòng họ ông bị thất tán, con cháu lưu lạc phải đổi sang họ khác để trốn chạy sự truy bắt của triều đình. Công danh, sự nghiệp của ông bị tiêu tan, đến nỗi vua Minh Mạng cho rằng: “Thành cùng lũ Vũ Trinh, Trần Hựu đều là người có tội, không nên làm bẩn luật, sai xóa tên trong luật (Hoàng Việt luật lệ) đi” [70, 395]. Đến năm 1847, Đông Các Đại học sỹ Vũ Xuân Cẩn dâng sớ xin vua truy xét công trạng của Nguyễn Văn Thành. Sau khi bản sớ được tâu lên, vua Tự Đức xem xong đã ban chiếu rửa tội cho Nguyễn Văn Thành và cho con cháu ông được làm quan, âu cũng là một việc để “khuyến khích người có công”.

Tiểu kết

Trưởng thành trong giai đoạn đất nước có nhiều biến động và phức tạp, nhiều thế lực chính trị nổi lên tranh nhau quyền cai tri đất nước. Đặc biệt, cuộc giao tranh gữa phong trào Tây Sơn và lực lượng họ Nguyễn đã đưa đất nước rơi vào cảnh chiến tranh loạn lạc trong mấy chục năm liền. Trong bối cảnh lịch sử đó, Nguyễn Văn Thành đã chọn và quyết theo phò tá Nguyễn Ánh khôi phục lại cơ đồ. Bằng trí thông minh và tài mưu lược, ông đã lập được rất nhiều chiến công, giúp Nguyễn Ánh khôi phục lực lượng, từng bước lấy lại Gia Định rồi Quy Nhơn, Phú Xuân và cuối cùng là Bắc Hà, thu giang sơn về một mối. Với những công lao to lớn đó, Nguyễn Văn Thành trở thành một trong hai vị tướng đứng đầu của Nguyễn Ánh, được Nguyễn Ánh phong tới chức Khâm sai chưởng Trung quân, tước Quận công.

Sau khi thiên hạ đại định, Nguyễn Văn Thành được vua Gia Long tin cẩn giao giữ chức Tổng trấn, cai quản 11 trấn ở Bắc Thành. Không chỉ là một vị tướng tài ba giúp Nguyễn Ánh điều binh khiển tướng. Ông còn tỏ ra là một người tài năng, đầy bản lĩnh để cai trị đất nước trong thời bình. Với vai trò là người đứng đầu Bắc Thành, Nguyễn Văn Thành đã có nhiều đóng góp rất lớn trong việc giúp vua Gia Long kiến thiết đất nước sau khi lên ngôi. Trước hết, ông đã cho chiêu dụ dân xiêu tán về quê làm ăn, chia lại ruộng đất, chăm lo đê điều, đặt lại thuế khóa, “thương dân như con”... nhờ vậy đời sống của người dân Bắc Hà dần dần ổn định. Tiếp đó, ông tiến hành dẹp trừ các loạn đảng, những thế lực có tư tưởng chống lại triều đình, ra sức bảo vệ biên giới giữa ta và Trung Quốc... giúp ổn định tình hình chính trị. Ông lại đưa ra nhiều chính sách chiêu dụ Nho sỹ, hậu đãi người có tài, mở rộng thi cử để tuyển bổ quan lại nhằm xây dựng và đảm bảo bộ máy hành chính thực thi công việc hiệu quả; chấn chỉnh bộ máy quản lý làng xã Bắc Thành... Đặc biệt, Tổng trấn Nguyễn Văn Thành đã cho tu sửa lại kinh thành Tăng Long, xây Khuê Văn Các ở Văn Miếu Quốc Tử Giám, xây cột cờ Hà Nội và sửa chữa chợ Đồng Xuân... những công trình văn hóa này đã trở thành biểu tượng của Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung trong hơn hai thế kỷ qua.

Trong thời gian làm quan tại kinh đô Phú Xuân, ông là Tổng tài đứng ra biên soạn bộ Hoàng Việt luật lệ, bộ luật được đánh giá là đồ sộ nhất trong lịch sử luật pháp phong kiến Việt Nam. Ông cũng đồng thời là vị Tổng tài đầu tiên của Quốc sử quán triều Nguyễn. Trong suốt cuộc đời làm quan của mình, dù ở trên cương vị nào, Nguyễn Văn Thành cũng luôn toàn tâm, toàn lực phụng sự vua và người dân. Ông là một vị thanh quan tài ba đức độ, mẫu mực, được vua rất tin dùng, khi vào chầu thường được cho ngồi trao đổi tâm tình, bàn quốc sự. Còn người dân Bắc Thành thì gọi ông với cái tên rất gần gũi mà cũng rất thiêng liêng là “Chúa trấn”. Trong số các nhân vật thời Gia Long, hiếm có người nào văn võ tài toàn như Nguyễn Văn Thành. Chính vì vậy, ông là một trong những người “quý hiển nhất” trong các bậc đại quan thời Gia Long.

Chương 3.
NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA NGUYỄN VĂN THÀNH
 VÀ CÁI CHẾT CỦA ÔNG

3.1. Những đóng góp của Nguyễn Văn Thành

3.1.1. Trên lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao

- Về chính trị: Trước hết, Nguyễn Văn Thành là một nhà chính trị suất sắc trong việc giúp vua Gia Long xây dựng cơ đồ và cai trị đất nước.

Trong những ngày đầu xác lập vương triều Nguyễn, Nguyễn Văn Thành là người đã tham mưu cho vua Gia Long nhiều chính sách cai trị hiệu quả. Tháng 4 năm 1802, khi chuẩn bị tiến quân ra Bắc, Nguyễn Văn Thành đã dâng sớ nói rằng:

 Thần nghe các thánh vương đời xưa giết trừ kẻ bạo loạn, bạo loạn đã trừ thì có thể làm chính trị kế tiếp lâu dài được. Nay nước nhà dựng lại, mọi việc bắt đầu, những chế độ về quan lại, lễ nghi và hình luật đều là việc đầu tiên của chính trị. Xin sắc cho bầy tôi tìm tòi điển cũ, châm chước bàn bạc để thi hành. Lại chính phủ từ  Bình Thuận đến Bố Chính và một châu (Bố Chính), dẫu đã đặc quan công đường mà chưa đặt binh vệ. Dinh thần chỉ coi việc dân, chợt có việc biến phải đợi triều đình điều động quân nơi khác đến, lâm cơ ứng việc, sợ không nhanh chóng. Nay sắp có việc Bắc phạt, xin hạ lệnh cho các dinh đều đặt tinh binh coi giữ và ở nơi quan trọng thì cho đại thần trấn trị mà kiêm lãnh dinh khác, khiến cho cánh tay và ngón tay giúp đỡ lẫn nhau, khi hoãn khi cấp đều sẵn sàng cả, như thế ngõ hầu không phải lo ở bề trong nữa. Vua khen lời ấy là phải [73, 489].

 Đặc biệt, khi được Gia Long giao trọng trách làm Tổng trấn Bắc Thành. Nguyễn Văn Thành đã có nhiều chính sách cai trị phù hợp, giúp ổn định tình hình gần một nửa đất nước, đây là đóng góp rất lớn của Nguyễn Văn Thành đối với vua Gia Long nói riêng và triều Nguyễn cũng như dân tộc ta nói chung. Trong đó, nổi bật  nhất là việc phủ dụ trăm họ và thu phục những Hương cống, Tiến sỹ, nho sỹ thời Lê tham gia vào bộ máy chính quyền Bắc Thành. Với việc chiêu dụ thành công nhân sỹ Bắc Hà, chứng tỏ Nguyễn Văn Thành là một nhà chính trị vô cùng xuất sắc. Bởi vì, đất Bắc vốn là đất của nhà Lê. Trước khi nhà Nguyễn xác lập quyền cai trị, nho sỹ Bắc Hà phần lớn đều được đào tạo từ “cửa Khổng, sân Trình” và họ luôn là “nguyên khí của quốc gia”. Đặc biệt, tầng lớp này vẫn hướng vọng về nhà Lê và thực tế là “không công nhận” chính quyền họ Nguyễn. Cho nên, phủ dụ được nhân sỹ Bắc Hà không hề là việc làm đơn giản. Tuy nhiên, bằng tài năng và uy tín của mình, Nguyễn Văn Thành đã quy tụ được rất nhiều Nho sỹ tham gia vào bộ máy hành chính để cùng xây dựng đất nước như: Vũ Trinh, Phạm Quý Thích, Cao Huy Diệu, Ngô Thì Vị, Nguyễn Huy Lượng... Việc phủ dụ và thu phục được tầng lớp Nho sỹ hợp tác với chính quyền ở Bắc Thành là một thành công rất lớn trong đường lối chính trị của Nguyễn Văn Thành, điều đó chứng tỏ ông không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn là một nhà chính trị có tầm nhìn sâu sắc.

Ngoài ra, Nguyễn Văn Thành còn chủ trương cai trị theo đường lối “nhân trị”. Đây là một tư tưởng chính trị đã được nhiều đời vua trước đó thực hiện và đem lại hiệu quả rất tốt. Đường lối nhân trị của Nguyễn Văn Thành thể hiện rõ nhất là tư tưởng “thân dân”, “thương dân như con”. Trong thời gian làm tướng chỉ huy quân đội, ông hết lòng thương binh sỹ của mình. Sách Đại Nam liệt truyện chép rằng: “một hôm vua [Nguyễn Ánh] sai Thành đem 1000 lạng bạc đi Chiêm Kha đong thóc, đi đường gặp quan quân mắc nợ tiền bạc với người Xiêm, họ dằng dữ đòi nợ rất khổ, Thành thấy thế thương, dốc túi cho quân trả nợ đi về tay không” [70, 370]... Trong vụ án làm giả sắc phong thần cho Hoàng Ngũ Phúc của Nguyễn Gia Cát và Đặng Trần Thường năm 1811, trong khi Thượng thư bộ Hình Phạm Như Đăng cho rằng, tội của Đặng Trần Thường nên cách chức, còn Nguyễn Gia Cát nên xử tử. Hữu Tham tri bộ Hình Lê Bá Phẩm luận rằng, Gia Cát và Trần Thường tội giống nhau, cùng tội mà phạt khác thì không đúng hình nên đều xử tội chết. Do chưa có sự thống nhất về án phạt Nguyễn Gia Cát và Đặng Trần Thường nên vụ án được trình lên Gia Long, vua sai đình thần xét lại. Nguyễn Văn Thành lúc này đang làm quan tại kinh đô Phú Xuân, đã tầu rằng:

 Dẫu Trần Thường và Gia Cát vẫn là có tội, nhưng lấy công chuẩn tội thì còn có Bát nghị gồm: Nghị thân, Nghị cố, Nghị công, Nghị Hiền, Nghị năng, Nghị cần, Nghị quý và Nghị tân. Xét kỹ những quy định của Bát nghị, Đặng Trần Thường được hưởng Nghị cố (người có công phò tá vua Gia Long phục quốc), Nghị công (hàng công thần), Nghị năng (người có tài năng), Nghị cần (người siêng năng cần mẫn), Nghị quý (Thượng thư bộ Binh), còn Nguyễn Gia Cát hưởng Nghị quý (tả Tham tri bộ Lễ) [111, 282-284].

Qua sự việc trên cho thấy, hành động làm của Nguyễn Văn Thành rõ ràng là sự quan tâm, trân trọng những công lao, đóng góp của “tội nhân”. Đồng thời, cũng là sự giúp đỡ người hoạn nạn khi cần thiết. Đó là tấm lòng nhân ái và sự sự công minh của Nguyễn Văn Thành mà không phải ai cũng làm được. Bởi lẽ dưới chế độ quân chủ, không phải lúc nào lẽ phải cũng chiến thắng, không phải ai cũng đủ dũng khí để đứng về phía chân lý vì họ sợ “vạ lây”. Và thật tế là việc làm của Văn Thành đã bị vua Gia Long cho là “bênh vực, che chở người có tội” nên ông bị phạt 3 con trâu.

Trong thời gian làm Tổng trấn Bắc Thành và làm quan tại kinh đô Phú Xuân, ông luôn thể hiện tấm lòng thương dân, vì dân. Ông đã nhiều lần dâng sớ lên vua Gia Long mong hạn chế bớt phần nào nổi khổ của dân chúng, chẳng hạn: tháng 8 năm Giáp Tý (1804), quan Bắc Thành tâu rằng: “liền năm đê vỡ, các trấn tai hại rất nhiều. Xin phàm việc không cần kíp và kiện vặt ở các nha đều cho hoãn cả. Thuế mùa hạ và thuế trốn thiếu năm trước cũng xin đều thu vào mùa đông, để dân đỡ cấp bách” [73, 615]. Tháng 6 năm Ất Sửu (1805) quan Bắc Thành tâu rằng: “gần đến mùa mưa lụt, sợ đê điều thẩm lậu, xin lấy dân sửa đắp và dự trữ dống đất, tre gỗ ở trên mặt đê để phòng bị” [73, 634]. Đặc biệt, năm 1810 dân Bắc Thành bị đói do hạn hán và lũ lụt, Nguyễn Văn Thành dân sớ lên vua Gia Long nói rằng: “nước lấy dân làm gốc, dân lấy ăn làm đầu” và xin bàn cách phát chẩn và cho vay để đỡ túng ngặt cho dân. Vua Gia Long đã sai “phát thóc kho ra 30.000 hộc” để cứu đói.

 Ngoài ra, với tấm lòng “thương dân như con” ông đã giúp người lân làng Dã Lê Thượng đòi quyền lợi của mình, chuyện kể rằng: “năm Chính Hòa thứ 12 (1691) Dã Lê Thượng tách sổ đinh và năm Gia Long thứ 10 (1811) tách bộ điền trở thành một xã độc lập hoàn toàn với Dã Lê Chánh” [82, 67]. Như vậy, trong suốt 120 năm, khi xã Dã Lê tách thành Dã Lê Chánh và Dã Lê Thượng, nhân dân làng Dã Lê Thượng có dân đinh nhưng không có ruộng đất để cày cấy, do “làng Dã Lê Chánh chịu tách đinh chứ không chịu tách điền”. Biết chuyện như vậy, Nguyễn Văn Thành đã đã bày cho dân làng Dã Lê Thượng là vua Gia Long sắp tới sẽ có việc đi ngang qua đây, dân làng hãy ra quỳ mà xin, ông sẽ tâu giúp. Sau đó, nhờ có lời tâu của Nguyễn Văn Thành, vua Gia Long đã chấp thuận việc tách đinh cùng điền cho dân làng Dã Lê Thượng. Ngoài ra, trong khi chia ruộng đất cho dân làng Dã Lê, Nguyễn Văn Thành đã chia cho làng Dã Lê Thượng ruộng cạn dễ canh tác, còn phần ruộng sau chia cho làng Dã Lê Chánh” [129], [31, 97].

Nguyễn Văn Thành cũng là người đã nhiều lần tham mưu cho vua Gia Long về đường lối trị nước cũng như việc giải quyết mối quan hệ với các nước lân bang. Nổi bật nhất là sự việc xảy ra vào năm 1811, khi quân Xiêm đưa quân đến đóng ở Bắc Tầm Bôn uy hiếp Chân Lạp, Nặc Ông Chân cho sứ thần sang Gia Định đề nghị giúp đỡ. Vua Gia Long triệu họp quần thần để bàn, Nguyễn Văn Thành đã tâu rằng: “Xiêm cùng ta kết hiếu, nay mở binh đao lợi hại không nhỏ, xin hạ lệnh cho quan thành Gia Định sai một người tướng ở ngoài biên đi tuần xem hư thực rồi sau tâu lên” [70, 390]. Vua cho lời bàn ấy là phải, liền giao cho Nguyễn Văn Thành làm Chưởng Trung quân để thương dụ về sự nghi biên thùy. Hoặc sự kiện năm 1814. Lúc này, Nguyễn Văn Toại được vua Gia Long giao trách nhiệm bảo hộ nước Chân Lạp. Nhưng Nguyễn Văn Toại lại dựa vào quyền lực “làm việc nhiều chuyên quyết, phiên vương ngờ sợ”. Trước tình hình đó, vua Gia Long đã cho triệu đình thần họp bàn, Nguyễn Văn Thành tâu rằng: “Chân Lạp làm thuộc quốc ta, nhiều đời sữa lễ cống, nay nước ấy nhỏ yếu, liền sai lũ Thoại đóng riêng ở La Bích, cho Nặc Chân tự làm mọi việc thì lòng dân nước ấy sẽ yên” [70, 392]. Vua Gia Long nghe theo và ra lệnh cho Nguyễn Văn Toại không được can dự sâu vào việc của Chân Lạp. Nhờ vậy, triều Nguyễn đã giữ được mối quan hệ hữu hảo với các nước mà không cần động đến binh đao.

Những tư tưởng và việc làm của Nguyễn Văn Thành cho thấy ông là một nhà chính trị vô cùng tài ba, sắc sảo. Chính nhờ vậy, trong 10 năm khi cai trị vùng đất Bắc Thành, mặc dù “không động đến lời nói nét mặt mà trộm giặc đều yên”.

 

- Về quân sự: Đóng góp của Nguyễn Văn Thành trên lĩnh vực quân sự xuất sắc nhất là ở giai đoạn phò tá các chúa Nguyễn.

Năm 1773, Nguyễn Văn Thành theo cha phò tá chúa Nguyễn Phúc Thuần chống Tây Sơn. Sau khi cha mất, ông tiếp tục theo Nguyễn Ánh, xem Nguyễn Ánh như một vị minh chúa và dốc lòng thờ phụng, lập được nhiều chiến công và được xem là “người có công lớn nhất” trong việc đưa Nguyễn Ánh lên ngôi. Trong thời gian theo phò tá chúa Nguyễn, Nguyễn Văn Thành được đánh giá là người “có tài võ lược, lâm trận dụng binh mưu lược nên ít khi thua” [70, 395]. Thật vậy, tài “mưu lược” của ông sớm bộc lộ và thể hiện rất rõ trong suốt quá trình phò tá Chúa Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Ánh khôi phục vương triều Nguyễn. Trước hết là sự kiện năm 1773, khi Nguyễn Văn Thành theo cha đóng quân ở sông Cầu chống nhau với quân Tây Sơn,

... Phước Hợp sai Hiền (cha của Nguyễn Văn Thành) đem vài nghìn lính đi lấy thóc ở Sông Cầu, Thành cùng đi đấy, giặc tung quân ra chẹn đánh, quan quân, một nữa gánh thóc không phòng bị, Hiền thấy giặc áp đến, sai Thành lui tránh đi. Thành ra đằng sau trận sai các người đội thóc dơ đòn gánh lên làm võ khí, treo áo lên làm cờ, chuyển từ thượng đạo xa động đánh trống reo hò tiến lên, giặc ngờ là quân đến cứu hơi lui, quan quân thừa thế đánh được toàn thắng [70, 395].

 Chỉ với một mưu kế nhỏ, Nguyễn Văn Thành không những đã giải vây cho cha và quan quân mà còn giúp họ đánh được toàn thắng. Trong trận này, Nguyễn Văn Thành được  “[Tống] Phước Hợp khen Thành ít tuổi mà khôn, thưởng 10 lạng bạc và một bộ áo sa” [70, 395].

Trong một lần Nguyễn Văn Thành cùng Nguyễn Ánh đóng quân ở Thổ Chu, gặp lúc hết lương ăn, quân đói xanh mặt. Lúc đó có thuyền buôn Hạ Châu ngang qua, Nguyễn Văn Thành bàn với quan quân tính kế cướp lương, lúc đó có người hỏi, làm sao để dụ thuyền lên đảo, Nguyễn Văn Thành nói rằng: hãy đốt lửa giả làm thuyền buôn gặp nạn và kêu cứu, đồng thời cho quân mai phục ở phía sau, khi thuyền buôn Hạ Châu vừa ghé vào, quân lính xông ra đánh cướp. Lúc đầu các thương nhân chống lại rất dữ, về sau thấy binh lính càng lúc càng đông, liệu thế không chống được đành phải nhảy lên một thuyền khác bỏ chạy, “Thành bị vài viết thương cố nhảy lên cướp được thuyền gạo đem về” [70, 370]. Nhờ tài thông minh và gan dạ, Nguyễn Văn Thành đã giúp đội quân của Nguyễn Ánh vượt qua khó khăn lúc nguy nan.

Trong suốt thời gian theo phò tá Nguyễn Ánh lấy lại Gia Định và vùng Nam Trung bộ, Nguyễn Văn Thành đã chỉ huy ba quân đánh thắng hàng trăm trận, trở thành một vị tướng tài ba. Chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà trong hàng trăm thuộc tướng theo Nguyễn Ánh, Nguyễn Văn Thành lại được trọng dụng như vậy. Ông quả thật là một vị tướng tài và có tâm. Ông luôn phân tích kỹ lưỡng đâu là điểm mạnh, đâu là thế yếu rồi mới đưa ra quyết định. Là một vị tướng luôn ngồi trên bành voi để đánh giặc, nhưng Văn Thành không chỉ biết “đánh” mà có lúc ông cũng biết “lùi” để bảo toàn tính mệnh của binh sỹ và để tiến xa hơn. Điều này thể hiện rất rõ trong sự kiện năm Tân Hợi (1791). Sau khi lấy lại được Gia Định, Nguyễn Văn Quân xin phát binh đi đánh Bình Thuận, Nguyễn Ánh do nóng vội muốn mở rộng lãnh thổ ra phía Bắc nên đã đồng ý, nhưng Nguyễn Văn Thành đã can và nói  rằng: “mới lấy được Gia Định dân tâm chưa bền, phòng thủ chưa chu đáo nếu không tính thế bên mình bên địch, chỉ tấn công một sớm một chiều lấy đồn dễ mà giữ thì rất khó, chả gì bằng ta trước lập cái thế không thua, nuôi sức chờ thời cơ thì cả một dãi sông Ranh trở vào vào Nam có thể đánh một trận mà khôi phục được” [70, 372]. Chỉ chừng ấy thôi đủ cho ta thấy, Nguyễn Văn Thành là người rất giỏi trong việc dụng binh. Không phải lúc nào cũng nhất nhất đem quân đi đánh mới là tướng giỏi, mới lập được công to. Người thật sự có tài là người biết lúc nào nên đánh, lúc nào nên chờ thời cơ, đó mới chính là mưu lược của người cầm quân. Ông đã tính toán và phân tích tình hình rất kỹ bên địch bên mình, bởi “lấy đồn thì dễ, nhưng giữ đồn thì rất khó”. Vì một sự thật hiển nhiên rất dễ nhận thấy là Diên Khánh, Bình Khang khá xa Gia Định, “quân cứu đi về động đến mười ngày”. Nếu như lấy được thành rồi mà quân Tây Sơn bất ngờ tấn công thì việc cứu binh là rất khó, chẳng khác nào “mình cắt thịt cho hùm nó ăn”. Và sự thật thì lịch sử đã chứng minh, Nguyễn Ánh không nghe lời can ngăn của Văn Thành mà vẫn lệnh cho Lê Văn Quân đem binh đi đánh Bình Thuận, sau đó tiến ra Diên Khánh. Khi quân Tây Sơn bất ngờ phản công, Lê Văn Quân không chống đỡ nổi phải nhờ “Thành đem quân đến cứu” mới dẫn được quân về.

Trong trận đánh thành Quy Nhơn, do lực lượng hai bên ngang sức không phân thắng bại, Nguyễn Nhạc lại cho người cấp báo nhờ Cảnh Thịnh ở Phú Xuân đưa quân đến cứu viện nên quân của Nguyễn Ánh bèn lui về Phú Yên. Lúc đó, trong ba quân đều bàn nhau rằng “quân giặc sắp theo đến nơi”, nhưng Nguyễn Văn Thành vẫn bình tĩnh nói rằng: “Quy Nhơn (Nguyễn Nhạc), Thuận Hóa (Nguyễn Huệ) trong thân ngoài cừu thù tiếng gọi là đến cứu, thực là đến đánh nhau vậy. Nhạc tự cứu mình không nổi, còn lúc nào đuổi ta. Trước Viên Thiệu đến cứu Viên Thuật mà rồi kiềm tính Viên Thuật, thế giặc ngày nay cũng giống thế đấy” [70, 373-374]. Quả là như vậy, khi quân Nguyễn Văn Hưng (tướng của Nguyễn Huệ) đến thành Quy Nhơn đã bức hiếp Nguyễn Nhạc khiến Nhạc phải thổ máu mà chết.

Trong các trận đánh thành Quy Nhơn, Nguyễn Văn Thành đã có nhiều sáng kiến về “nghệ thuật quân sự” như: “ sai đào hố ở phía trước thành rồi đặt thuốc súng làm kế địa lôi”, nên đến lúc đối trận giữa quân Nguyễn Ánh và quân Tây Sơn, phóng hỏa tiếng vang như sấm, quân Tây Sơn phải rút vào thành cố thủ. Nguyễn Văn Thành còn dùng người Man chỉ đường, địa thế thành Quy Nhơn. Nhờ vây, đã tìm được đường có thể đánh úp sau lưng thành phía Tây Nam, rồi vẽ địa hình dâng lên Nguyễn Ánh. Sau khi xem biểu xong, Gia Long mừng rỡ nói rằng: giặc ở trước mắt ta. Sau đó, sai Tống Viết Phước và Lê Văn Duyệt đem quân đến Đồng Cậy theo Nguyễn Văn Thành tiết chế. Nguyễn Văn Thành dẫn binh qua núi Bột Khê chạy hơn 200 dặm xông mưa mà tiến, quanh ra đằng sau lưng giặc phóng hỏa đốt trại. Ở mặt trước, Lê Văn Duyệt thừa thắng giúp đánh, quân Tây Sơn không chống được phải bỏ chạy. Ngoài ra, khi Nguyễn Ánh chuẩn bị đánh hỏa công vào Thị Nại, Nguyễn Văn Thành chia quân ban đêm đánh úp trại giặc khiến cho giặc lo chống giữ trên bộ để thủy binh Nguyễn Ánh dễ dàng tấn công của biển Thị Nại, nhờ vậy Nguyễn Ánh đã đánh chiếm được thành Quy Nhơn.

Đặc biệt, khi Nguyễn Ánh quyết định tiến quân đánh Phú Xuân. Ông đã giao cho Nguyễn Văn Thành điều bát bộ binh các đạo chống nhau với quân Tây Sơn ở Bình Định và dụ rằng: “thành bại cùng ở một lần này, Quy Nhơn trở về Nam, ngươi nhận lấy trách nhiệm”. Lời nói của Nguyễn Ánh cho thấy vai trò của Nguyễn Văn Thành vô cùng quan trọng. Chính nhờ quân của Nguyễn Văn Thành đã giữ chân Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng ở Quy Nhơn, mà Nguyễn Ánh mới dễ dàng chiếm được Phú Xuân vào năm 1802. Đây là một trong những đóng góp vô cùng lớn của Nguyễn Văn Thành trong việc giúp Nguyễn Ánh lấy lại giang sơn.

Sau khi Gia Long lên ngôi, mặt dù đất nước không còn chiến tranh, nhưng Nguyễn Văn Thành vẫn không quên nhiệm vụ xây dựng quân đội thường trực hùng mạnh. Chính ông là người đã tham mưu cho vua Gia Long biện pháp xây dựng quân đội.

...nên đặt binh ở trong nông dân, xin chọn dân nội tịch cường tráng làm lính, dần làm chi hiệu, chọn người có công cũ làm quản suất, vô sự thì làm ruộng, có sự thì trưng phát làm lính... Về chọn tổng binh, xin chọn dân trong sổ đinh, một phân tám đặt làm đội ngũ cùng chọn người có chiến công làm cai quản, mỗi một lính thì 7 người dân phụng dưỡng, hàng năm nộp tiền ở trấn, chia kỳ hiệu phát, mỗi trấn lập một quân xá cho lính thường đóng ở đấy, tháng cấp tiền lương cho được thông thuộc liền nhau, thao luyện cho tốt để đợi khi dùng đến [70, 390].

- Về ngoại giao:

Không chỉ là một nhà chính trị tài ba, một vị tướng giỏi, Nguyễn Văn Thành còn là người có tầm nhìn rất sâu sắc về ngoại giao, điều này thể hiện rõ nhất trong quan điểm ban giao của ông đối với hai quốc gia: Xiêm La và Trung Quốc.

Trong một lần theo Nguyễn Ánh đem quân đi đánh Miến Điện giúp Xiêm và giành được thắng lợi. Vua Xiêm có ý muốn giúp lại Nguyễn Ánh để thu phục Gia Định, Nguyễn Văn Thành đã bàn với Nguyễn Ánh rằng: “Vua Thiếu Khang chỉ có một lữ còn dựng được cơ nghiệp nhà Hạ. Ta nuôi sức mạnh mà thừa chỗ sơ hở thì việc còn có thể làm được, chứ nếu mượn người ngoài giúp, đưa Di Địch vào trong tâm phúc thì sợ để lo về sau. Không bằng cứ yên tĩnh để chờ cơ hội là hơn. Vua khen phải, việc ấy bèn thôi”. Qua lời tâu đó cho thấy, Nguyễn Văn Thành là người có tầm nhìn xa trông rộng, biết nhìn trước ngó sau, tính toán kỹ lưỡng chứ không vội vàng, nhìn thấy cái lợi trước mắt mà quên sự nghiệp lâu dài. Ông sớm rút ra bài học lịch sử từ sự kiện quân Xiêm đã từng “giúp” Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn vào năm 1784. Nguyễn Văn Thành đã thấy được bản chất của quân Xiêm, đây là đội quân “tàn bạo, đến đâu là cướp bóc đến đấy, nhân dân ta oán rất nhiều”, nên đã không vì quyền lợi của một nhóm người mà để nhân dân phải chịu cảnh lầm than, cơ cực. Mặc khác, nếu nhờ quân Xiêm sang đánh Tây Sơn thêm một lần nữa, người dân Nam bộ sẽ càng oán hận Nguyễn Ánh nhiều hơn và khi đó sự nghiệp khôi phục vương quyền của họ Nguyễn lại càng khó khăn. Đây là chính là nhãn quan của một vị tướng, một nhà chính trị tài ba và dày dạn kinh nghiệm, biết nhìn xa trông rộng và vì đại cuộc.

Không chỉ vậy, Nguyễn Văn Thành còn “nhìn thấy” mưu đồ của quân Xiêm là muốn “thôn tính” cả nước ta thông qua “thiện chí giúp đỡ”. Trong giai đoạn này, Xiêm La đang thực hiện đười lối đối ngoại bành trướng xâm lược. Từ năm 1782 dưới sự trị vì của Ra Ma I, ông đã tiến hành hàn loạt các cuộc chiến tranh xâm lấn những quốc gia nhỏ lần cận như: Chiềng Xen, Chiềng Rai, Viên Chăng, các quốc gia nhỏ bán đảo Malacca... phong kiến Xiêm La cũng chờ có cơ hội là nhòm ngó lãnh thổ Việt Nam. Cho nên, từ chối “thiện chí” của Xiêm La không chỉ tránh được nỗi khổ cho dân chúng mà còn tránh được “sự lo về sau”. Đây là bài học kinh nghiệm sâu sắc trong quan hệ ngoại giao với Xiêm La mà Nguyễn Văn Thành sớm đã nhìn ra. Nhờ vậy, đã tránh được mối họa “đem giặc vào trong nước”. Quan điểm ngoại giao này cũng trở thành “kim chỉ nam” cho triều thần nhà Nguyễn trong quan hệ với Xiêm La từ đó trở về sau. Từ sau lời tâu của Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Ánh cũng đã nhận ra được dụng ý của quân Xiêm nên luôn giữ thái độ hòa hiếu, mềm mỏng với Xiêm La nhưng nhất quyết không nhận sự giúp đỡ của Xiêm về quân sự.

Ngoài ra, để giúp Nguyễn Ánh khôi phục cơ đồ, Nguyễn Văn Thành không chỉ biết động binh đánh nhau với Tây Sơn, mà ông còn nghĩ đến việc thông sứ với nhà Thanh để phản gián Tây Sơn. Năm 1788, Nguyễn Văn Thành cùng Đặng Trần Thường dâng sớ lên Nguyễn Ánh nói rằng:

Ta cùng Tây Sơn chính là lấy nước nọ địch với nước kia, thế phải phạt giao cầu cứu, khiến thế giặc này cô lập, thế mới là kế vẹn toàn... Họ [nhà Thanh] nghĩ Tây Sơn lấy được cả Nam Việt không ai địch nổi, về hư thực mạnh yếu chỉ nghe lời nói của lái buôn chưa đủ tin lắm... Nay quân ta tự thắng trận ở Đà Nẵng về sau lũ đen giặc biển ta bắt được cũng nhiều... đem vài chiếc thuyền giặc làm đồ kiến khoản, vua nhà Thanh tất khen mà nhận, không nỡ coi thường ta” [70, 376].

Không những thế, ông còn tuyển cử Đông cung Thị học Ngô Nhân Tĩnh và Vĩnh trấn Ký lục Phạm Thận đi sứ sang Thanh. Những việc làm này đã đặt nền móng cho quan hệ ngoại giao tốt đẹp giữa nhà Thanh và Gia Long sau này.

3.1.2. Trên lĩnh vực luật pháp, sử học, văn học

- Về luật pháp

Đối với mọi quốc gia trên thế giới, pháp luật là một trong những công cụ vô cùng quan trọng để cai trị đất nước. Triều Nguyễn cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Sau khi thiết lập nên vương triều Nguyễn, Gia Long và các đời vua tiếp theo luôn quan tâm xây dựng, củng cố pháp luật để cai trị xã hội và giữ vững vương quyền. Người có công lớn nhất trong việc soạn luật của triều Nguyễn không ai khác chính là Tổng tài Nguyễn Văn Thành.

 Năm 1802, sau khi lên ngôi hoàng đế, mặc dù phải đảm đương nhiều công việc trọng đại của đất nước, vua Gia Long vẫn rất quan tâm đến vấn đề pháp luật, ông nói rằng: “các bậc đế vương trị nước, hình pháp đặt ra đã lâu. Hình pháp không đúng thì dân không chỗ mà nắm. Nay luật lệ chưa định, pháp ty không theo vào đâu được, thật không phải ý “khâm tuất minh doãncủa Trẫm”. Vì vậy, đã “sai đình thần soạn định luật lệ, lấy Nguyễn Văn Thành sung chức Tổng tài” và dụ rằng: “bọn khanh nên hết lòng khảo xét những pháp lệnh điển lệ của triều, tham hợp với điều luật thời Hồng Đức và nước Đại Thanh, lấy bỏ cân nhắc mà làm thành sách. Trẫm sẽ tự sữa chửa cho đúng để ban hành” [73, 807-808]. Sở dĩ vua Gia Long chọn Nguyễn Văn Thành làm Tổng tài biên soạn luật là bởi trong số những trọng thần của ông, Văn Thành là người “biết chữ, hiểu nghĩa sách”. Ngoài ra, vào năm 1806 khi vào kinh đô Phú Xuân chiêm cận vua Gia Long, Nguyễn Văn Thành đã dâng sớ đề nghị vua nên “định luật mới” để giữ kỷ cương phép nước, nên chọn Văn Thành đảm nhận việc biên soạn luật mới có lẽ là hợp hơn cả.

Ngoài bản thân phụ trách chính, “[Nguyễn Văn] Thành cử thuật hạ là Trần Hựu làm Đông Các học sĩ. Năm thứ 10 (1811) sửa luật lệ” [70, 389]. Đến năm Gia Long thứ 12 (1813), Thành cùng Vũ Trinh xét định luật lệ cộng 398 điều. Trước khi ban hành, Nguyễn Văn Thành đã dâng sớ tâu lên vua Gia Long rằng:

...Đặt lại quy tắc khoan hồng và thưởng phạt. Khi xem đến luật triều Thanh, đức Thánh thượng nhận thấy đó là bộ luật gồm đủ các sắc luật của các triều đại trước, nên ban sắc chỉ dạy các quan đem ra bàn bạc, xem xét cùng hạ thần ngõ hầu chọn lấy những gì khả dĩ soạn thành bộ luật riêng để dùng trong nước... Sách đã dạy: Trừng phạt để về sau không còn trừng phạt nữa, đặt ra tội hình để để về sau không còn phải dùng đến tội hình nữa. Điều đó há chẳng phải là điều mà đức thánh thượng hằng mong muốn hay sao? [39, 116].

Sau khi xem và sửa chữa xong, năm 1815 vua Gia Long cho in ban hành và áp dụng trong cả nước, đồng thời đích thân viết lời Tựa, nội dung như sau:

Trẫm nghĩ: Thánh nhân cai trị thiên hạ đều dùng luật pháp để xử tội, dùng đạo đức để giáo hóa họ. Hai điều ấy không thiên bên nào bỏ bên nào. Thật vậy, sống trong xã hội, con người với những ham muốn vô bờ, nếu không có pháp luật để ngăn ngừa thì không có cách gì để dẫn dắt người ta vào đường giáo hóa mà biết được đạo đức. Cho nên người xưa nói: Pháp luật là công cụ giúp cho việc cai trị thêm tốt đẹp. Luật lệ và pháp luật là những phán quyết cho sự trừng phạt tội ác [88, 3].

Có thể xem việc biên soạn, in ấn, ban hành bộ luật này là một quá trình làm việc nghiêm túc, chặt chẽ và hoàn hảo. Trong quá trình soạn thảo, các tác giả vừa tham khảo những bộ luật trước như luật nhà Lê, luật nhà Thanh. Đồng thời, cũng căn cứ vào truyền thống văn hóa của dân tộc và tình hình thực tế của đất nước để đưa ra những nội dung phù hợp.

- Bố cục bộ Hoàng Việt luật lệ

Hoàng Việt luật lệ gồm 22 quyển, 389 điều. Đây là bộ sách lớn, tập hợp các điều luật rất rõ ràng, được phân chia khá nhất quán trên cơ sở công việc của lục bộ để ban hành điều luật và xét xử, nội dung bao gồm:

 Phần Danh lệ: có tất cả 45 điều (quyển 2 và 3), được chia làm 2 phần, phần thượng và phần hạ. Nội dung bao gồm các luật như: Ngũ hình, thập ác, bát nghị, quan chức phạm tội...

 Lại luật: gồm 27 điều (quyển 4 và 5), chia làm 2 thiên gồm Quy chế về quan chức (13 điều) và các quy thức chung (14) điều. Nội dung bao gồm các điều luật về quy định, quy chế trong quan chức và những quy định chung đối với những người làm quan.

 Hộ luật: bao gồm 66 điều (quyển 6, 7 và 8), chia làm 7 thiên bao gồm: Hộ dịch, ruộng đất, hôn nhân, kho tang, thuế khóa, tiền nợ, chợ búa. Nội dung bao gồm những điều luật về điền sản, hôn nhân gia đình.

 Lễ luật: bao gồm 26 điều (quyển 9), chia làm 2 thiên, bao gồm: Tế tự và Nghi chế. Nội dung bao gồm những điều luật quy định về việc tế tự thần linh hoặc việc cúng tế các đế vương các đời và những quy định về nghi thức trong triều đình.

 Binh luật: bao gồm 58 điều (quyển 12-18), chia làm 11 thiên bao gồm: đạo tặc, nhân mạng, đấu ẩu, mắng chửi, tố tụng, nhận hối lộ, gian dối, phạm giam, tạp phạm, truy bắt người bỏ trốn, đoán ngục. Nội dung là những tội liên quan đến luật hình sự như trộm cắp, giết người, đánh nhau, tham ô hối lộ...

 Công luật: bao gồm 10 điều (quyển 2), chia làm 2 thiên: xây dựng nhà cửa, kho bãi và việc sửa chữa, canh giữ đê điều.

So với những bộ luật trước đó, bộ Hoàng Việt luật lệ “có nét đặc sắc riêng là tiến bộ và nhân đạo” [38, 116]. Mặc dù có tham khảo luật nhà Thanh, nhưng trong quá trình soạn thảo Hoàng Việt luật lệ, những cực hình như: tru di tam tộc, lăng trì, yêm... điều được Tổng tài Nguyễn Văn Thành và những người cộng sự xóa bỏ. Ngoài ra, bộ luật cũng thể hiện tính nhân đạo khi quy định những phiên tòa mở trong năm thường vào đầu mùa thu chứ không phải mùa hè. Vì mùa hè thời tiết nóng, sẽ ảnh hưởng đến việc buộc tội của các quan thẩm phán. Nếu phiên tòa xử trong mù thu năm nay mà chưa có phán quyết cuối cùng thì phải đợi mùa thu năm tới mới quyết án chung thẩm (gọi là Thu thẩm). Đây là đặc điểm và tính nhân đạo nổi bật Hoàng Việt luật lệ mà đến nay chưa có bộ luật nào có được. Ngoài ra, trong một số trường hợp cụ thể, Hoàng Việt luật lệ có những quy định rất nhân đạo, chẳng hạn: điều luật 17, quyển II quy định về người phạm tội còn phải ở nhà nuôi dưỡng cha mẹ nói rằng:

Phàm người phạm tử tội không được ân xá theo bình thường mà ông bà nội, cha mẹ già trên 70 tuổi hay tàn tật (bại liệt nặng), cần được săn sóc mà trong gia đình y (tội nhân) không có ai trưởng thành (từ 16 tuổi trở lên), nghĩa là không khác gì con trai duy nhất thì pháp quan phải điều tra kỹ lưỡng. Nếu phạm tội đồ, lưu thì xử phạt 100 trượng, tội còn thừa thì cho nhận giá chuộc, cho ở nhà nuôi dưỡng cha mẹ... Phàm cả hai anh em trai đều bị phạm tội và đều bị kết án tội chính, thì một trong hai người được ở lại nuôi cha mẹ [65, 88].

Đối với việc trừng phạt kẻ có tội, bộ luật cũng quy định rất rõ ràng, hình phạt nghiêm minh, nhất là đối với quan lại. Nếu như ai bị mắc vào mức nào thì căn cứ vào luật mà xử đoán. Những viên quan nào đến mức bị tước bỏ bằng, sắc, cáo của vua và bị xóa tên trong sổ  bộ quan là bị bãi chức hoàn toàn.

Việc soạn thảo hoàn chỉnh và ban hành bộ Hoàng Việt luật lệ có ý nghĩa và giá trị vô cùng to lớn đối với công cuộc xây dựng và quản lý đất nước dưới thời Nguyễn. Trước hết, nó là công cụ để xây dựng và củng cố nhà nước quân chủ trung ương tập quyền. Bởi vì, pháp luật bao giờ cũng là pháp luật của giai cấp thống trị. Những điều luật được đặt ra trước hết là ý muốn của nhà vua. Là công cụ cơ bản để bảo vệ quyền lợi nhà vua, bảo vệ quyền lợi của vương triều, mà cụ thể ở đây chính là bảo vệ vương quyền của Nho giáo. Chính vì vậy, bộ luật Gia Long đã lấy tư tưởng pháp luật Nho giáo làm căn cứ lý luận dùng để chỉ đạo phương pháp ứng dụng và nguyên tắc lập pháp của điều luật. Có thể nói, Hoàng Việt luật lệ là sự thể hiện trập trung nhất tư tưởng Nho giáo trong pháp luật phong kiến Việt Nam. Bộ luật đã thể chế quan điểm chính danh của Nho giáo nhằm buộc tầng lớp quan lại thực hiện theo đúng chức năng chỉ là phụ tá và thực thi quyền lực của nhà vua theo đúng cương vị của mình. Nội dung tam cương, ngũ thường cũng thể hiện rõ nét trong các điều luật. Đó là nững nguyên tắc đạo đức cơ bản của xã hội phong kiến, mà việc duy trì bảo vệ quân quyền lại chính là hạt nhân của nó. Ngoài ra, luật Gia Long cũng đã vận dụng tư tưởng lễ trị trong việc chế định luật lệ. Bởi, sống trong xã hội, con người có nhiều ham muốn, nếu không có luật pháp để ngăn ngừa thì không có cách gì để giáo hóa cho dân chúng.

Một giá trị rất lớn nữa của Hoàng Việt luật lệ là sự kết hợp giữa LễHình. Lễ thường nghiên về việc giáo dục, đề phòng phạm tội và dẫn dắt người dân hướng đến điều thiện. Vì vậy, Lễ trước hết được hiểu là những nghi lễ, những quy phạm đạo đức quy định quan hệ giữa con người với con người theo trật tự danh vị xã hội. Nhờ có Lễ là mỗi người có cơ sở để tiết chế hành vi của bản thân, nuôi dưỡng tính tình thành tập quán, thói quen đạo đức truyền thống. Đồng thời, đề cao Lễ là biện pháp ngăn ngừa phạm tội. Ngược lại, Hình lại nghiên về việc trừng phạt các tội ác. Các hình phạt được đưa ra nhằm vệ lễ giáo phong kiến. Việc kết hợp chặt chẽ giữa LễHình trong bộ Luật Gia Long đã góp phần phát huy những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta như: lòng hiếu thảo, kính trọng ông bà, cha mẹ, sự hòa thuận giữa vợ chồng, anh em, truyền thống tôn sư trọng đạo. Ngoài ra, nó còn có tác dụng trong việc điều chỉnh hành vi trong gia đình, làm cho mỗi người có ý thức về trách nhiệm, nghĩa vụ của mình. Như vậy, luật pháp đã có vai trò trong việc giáo dục đạo đức trong gia đình, xã hội, duy trì những chuẩn mực và giá trị đạo đức truyền thống.

Hoàng Việt luật lệ còn thể hiện giá trị nhân văn rất lớn, điều này thể hiện rất rõ ở chính sách khoan hồng đối với người phạm tội, bảo vệ người già và trẻ em, giúp đỡ những người tàn tật và cô quả, những người phạm tội tự giác đi tự thú... Chẳng hạn, điều 369 luật Gia Long ghi:

Phàm người được Bát nghị và từ 70 tuổi trở lên, từ 15 tuổi trở xuống nếu tàn phế, như có phạm tội thì quan ty không được dùng hình phạt tra khảo, chỉ được căn cứ vào các bằng cớ mà định tội... từ 80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở xuống đều không được bắt họ phải làm chứng” hay điều 385 quy định: “nếu phụ nữ mang thai phạm tội phải bị tra khảo thì y sự bảo quản nói trên, chờ sau sinh nở 100 ngày mới bị tra xét [ 65, 89].

Bên cạnh đó, mặc dù trong xã hội vẫn tồn tại tư tưởng trọng nam khinh nữ, nhưng trong Hoàng Việt luật lệ vẫn có những điều luật bảo vệ quyền lợi và thân phận người phụ nữ, đây là một nội dung rất tiến bộ của bộ luật này. Chẳng hạn trong Hộ luật hôn nhân (quyển 7, điều 12) quy định: “cưỡng đoạt vợ, con gái nhà lành bán cho người khác làm thê thiếp, hay đem dâng cho vương phủ, cho nhà huân công hào thích đều bị xử giam chờ thắt cổ” [39, 122], hoặc trong điều 385 quy định: “phàm đàn bà phạm tội, trừ tội gian dâm và tội chết mới bị giam cầm, còn những tội khác thì trách phạt rồi giao cho chồng y quản cố” [65, 89].

Hoàng Việt luật lệ với các chương mục, các điều luật lệ rõ ràng đã phản ánh trình độ lập pháp khá cao của những người làm luật vào đầu thế kỷ XIX, “có thể xem đây là bộ luật hoàn chỉnh và quan trọng nhất của pháp luật triều Nguyễn”. Đó là trí tuệ, công sức và tâm huyết của những người tham gia soạn thảo, trong đó người đóng góp quan trọng vào sự thành công của bộ luật này, không ai khác chính là vị Tổng tài Nguyễn Văn Thành.

- Về sử học:

Một điều rất đặc biệt mà có lẽ không một nhân vật nào trong lịch sử được như Nguyễn Văn Thành là cùng một lúc đảm nhận 2 chức Tổng tài, đó là: Tổng tài biên soạn bộ Hoàng Việt luật lệ và Tổng tài của Sử cục, cơ quan phụ trách việc soạn quốc sử triều Nguyễn.

Gia Long là vị “vua thích xem cổ sử, ham xem sử các đời trước”, ông luôn tâm niệm rằng: “ba quyền lớn nhất trong cõi thì sử là một. Trong năm điều khó của tác giả, sử là kiêm cả” [85, 40]. Chính vì vậy, ngay từ khi còn giao tranh với Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã sai người biên chép lại những việc làm của mình và “sai Thị thư viện sung chức Khởi cư chú”. Sau khi đại định thiên hạ, Gia Long quyết định: “nay soạn Quốc triều thực lục, phàm sự tích cũ cần phải tìm rộng rãi để sẵn mà tham khảo” [73, 817]. Đến tháng 12 năm Tân Mùi (1811), khi Vũ Trinh dân bảng Phàm lệ soạn sử. Vua Gia Long sau khi xem xong bản Phàm lệ đã cử “Nguyễn Văn Thành sung chức Tổng tài, Phạm Như Đăng làm phó” [73, 828]. Như thế, vị Tổng tài đầu tiên của Sử cục (sau này là Quốc sử quán) triều Nguyễn chính là đại thần Nguyễn Văn Thành.

 Trong hệ thống quan chức biên soạn sử học, Tổng tài là vị quan đứng đầu, là người phụ trách toàn bộ công trình, từ lúc khởi thảo đến lúc đọc duyệt, sửa chữa lần cuối để trình vua ngự lãm. Cho nên, vai trò của Tổng tài rất quan trọng. Họ có một tác dụng không nhỏ trong quá trình chuẩn bị tư liệu, xây dựng đề cương, phàm lệ, biên soạn bản thảo, sửa chửa, bổ sung và hoàn chỉnh công trình. Vì vậy, có thể khẳng định dấu ấn của vị Tổng tài luôn được lưu lại trên từng trang viết.

Một điều rất đặc biệt mà có lẽ không một nhân vật nào trong lịch sử được như Nguyễn Văn Thành là cùng một lúc đảm nhận 2 chức Tổng tài, đó là: Tổng tài biên soạn bộ Hoàng Việt luật lệ và Tổng tài của Sử cục (Quốc sử quán), cơ quan phụ trách việc soạn quốc sử triều Nguyễn. Trong thời gian được vua Gia Long sung chức Tổng tài của Sử cục thì trước đó, vua đã “sai đình thần soạn định luật lệ, lấy Nguyễn Văn Thành sung chức Tổng tài” biên soạn bộ luật Gia Long. Là một võ tướng, Nguyễn Văn Thành lại được vua Gia Long và triều thần tín nhiệm phụ trách soạn định luật lệ và viết quốc sử. Điều đó cho thấy, ông là một người vô cùng tài ba, có đầy đủ năng lực, phẩm chất và có uy tín lớn trong triều đình.

Không phụ lòng tin cẩn của vua và bạn đồng liêu. Sau gần 2 năm tiến hành biên soạn, tháng 7 năm 1812, bộ Hoàng Việt luật lệ gồm 22 quyển, 398 điều được dân lên vua Gia Long. Sau khi xem xét chỉnh sửa và đích thân viết lời Tựa. Đến tháng 8 năm 1815, bộ luật được ban hành và thực thi trong cả nước. Đây là bộ cổ luật lớn nhất của hệ thống pháp luật chế độ phong kiến Việt Nam còn tồn tại cho đến ngày nay. Ngoài ra, với vai trò là Tổng tài của Sử cục, Nguyễn Văn Thành đã góp phần đáng kể vào việc tham gia dự thảo Phàm lệ soạn quốc sử (bộ Đại Nam thực lục sau này).

- Về văn học:

Là một võ tướng, nhưng Nguyễn Văn Thành là người “thích đọc sách”, “giao du văn sỹ đó đây”. Ông đã từng dâng lên vua Gia Long rất nhiều tập sách và là Tổng tài biên soạn bộ Hoàng Việt luật lệ và biên soạn quốc sử. Ngoài ra, ông đã để lại khá nhiều tác phẩm văn, thơ. Trong đó, bài Văn tế tướng sỹ trận vong do được xem là “một án văn chương tuyệt bút trong quốc âm ta”.

 Năm 1802, tại Thuận Hóa ông đứng chủ tế ở lễ truy điệu các tướng sỹ đã bỏ mình trong cuộc chiến giữa Nguyễn Ánh với quân Tây Sơn. Gần 30 năm chinh chiến, ông đã đồng cam cộng khổ, vào sinh ra tử nhiều phen. Với vô số trải nghiệm chiến trường và chứng kiến không ít cảnh gian nan ác liệt cũng như những giây phút oai hùng, ông đã viết nên bài Văn tế tướng sỹ trận vong. Bài văn tế được đánh giá là “một án văn chương tuyệt bút trong quốc âm ta”.

Văn tế là một thể loại văn vần, nói đến văn tế người ta thường nghĩ ngay tới những bài văn tế thời danh như: Văn tế thập loại chúng sinh (Nguyễn Du), văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu), văn tế Phan Chu Trinh, văn tế Nguyễn Thái Học (Phan Bội Châu).... nhưng “chưa từng thấy bài nào hay bằng bài này, cảm động lòng người bằng bài này”, bởi vì: “lối văn tế Nôm xưa nay cũng nhiều mà phần lớn là những lời than giùm khóc mướn, không có một chút tình tứ gì”, còn văn tế tướng sỹ trận vong của Nguyễn Văn Thành thì “hay vì lời văn trác luyện, hay vì cái khí anh hùng, hay vì ý tứ tham trầm, hay vì cảm tình chan chứa trong toàn thiên” [7, 127]:

Hay vì lời văn: Lời lời đáng ghi vào vàng đá, truyền đến muôn đời; khi gióng giả như nhịp trống trong quân, khi tơi bời như ngọc cờ dưới nguyệt, khi “mịt mù như cơn gió lốc thổi dấu kẻ tha hương”, khi “lập lòe như đám lửa trơi, soi chừng chốn cổ độ”, khi hùng tráng như tiếng gươm tuốt trận, khi lâm ly như tiếng vượn khóc trên ngàn.

Hay vì ý cái khí: khí là khí phách anh hùng của mấy trăm vạn con em đất Việt Nam đã cùng ông Nã- phá-luân nước ta là Đức Thế Tổ Cao Hoàng đế trong hai mươi năm gian nan lao khổ, “trước từng trải Xiêm La, Cao Miên, về Gia Định mà dần ra Khánh Thuận, rồi lại từ Đồ Bàn, Nam Nghĩa lấy Phú Xuân mà thẳng tới Thăng Long”, thật là một đoạn lịch sử rất vẻ vang của Tổ quốc ta, ai đọc đến mà chẳng thấy hứng khởi trong lòng?

Hay vì ý tứ: ý tứ thâm trầm, muốn biểu dương công nghiệp của kẻ quân nhân đã giúp Bản triều gây dựng nên cơ đồ vĩ đại, người sống đã hết phận truy tùy, “chung nỗi ân ưu mà riêng phần lao khổ”, kẻ chết cũng còn hộ được “Hoàng triều cho bể lặn sóng trong”.

Hay vì cảm tình: cảm tình một võ tướng thương nhớ kẻ tỳ hưu đã cùng mình khi uống, khi “chén rượu đầu ghềnh”, khi “vung tấm cừu trước gió, mà nay gặp hội thăng bình, xót vì nỗi người còn mà kẻ khuất! Thương xót ngậm ngùi mà chạnh nghĩ đến “cha già, mẹ yếu, vợ góa con côi” của những kẻ chẳng may đã khuất đi, muốn an tập mà bảo toàn cho khắp đủ. Ấy cái tình một ông đại tướng đối với kẻ quân nhân thiết tha mà châu đáo thế nào.

Tưởng tượng bài này đọc trước mặt ba quân, trong đám “cờ đào, nón đỏ”, không còn cảnh tượng gì hùng tráng mà cảm động bằng: người nghe tức ai cũng nức nở trong lòng mà chứa chan giọt lệ vậy.

Đọc bài này thì đủ biết cái tâm địa một ông tướng giỏi nước Nam ta, lòng ưu ái ngang với chí anh hùng, thương quân sỹ như thương con mới nên được những giọng thâm trầm thấm thía như thế, có kém gì những bậc danh tướng của các nước trong thiên hạ.

Bài văn tế này, về đường văn chương, về đường tư tưởng, có thể đem sánh cùng những văn tế rất hay của linh mục Bossuetnước Pháp hay là văn hào Hàn Dũ nước Tàu, không sợ thua vậy [39, 148-149].

3.1.3. Trên lĩnh vực văn hóa

Đóng góp lớn nhất của Nguyễn Văn Thành trên lĩnh vực văn hóa ngoài việc soạn luật, soạn quốc sử, sáng tác văn học... ông còn góp phần xây dựng các công trình văn hóa tại vùng đất Bắc Thành. Trong đó, Khuê Văn Các là một trong những công trình tiêu biểu, trở thành biểu tượng của thành phố Hà Nội ngàn năm văn hiến.

 Năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Văn Thành được vua Gia Long cử làm Tổng trấn Bắc Thành, trông coi 5 nội trấn và 6 ngoại trấn. Trên cương vị của một vị “Phó vương”, Tổng trấn Nguyễn Văn Thành ra sức củng cố, ổn định tình hình Bắc thành và đời sống của nhân dân. Đồng thời, cũng tiến hành xây dựng nhiều công trình văn hóa-lịch sử tại vùng đất này, những công trình đó cho tới ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.

Việc làm đầu tiên của ông là tu sửa lại thành Thăng Long - lỵ sở của Bắc Thành thời kỳ này. Thành Thăng Long được xây dựng từ thời nhà Lý và trở thành kinh đô của nước Đại Việt cho tới thời Lê. Trải qua nhiều thế kỷ xây dựng và những thăng trầm của lịch sử, đến đầu thế kỷ XIX, thành Thăng Long bị tàn phá và hư hỏng rất nhiều. Đặc biệt, khi lỵ sở của Bắc Thành được đóng ở đây nên vua Gia Long đã có ý định cho xây dựng lại thành Thăng Long, “vua thấy quy chế của thành chật hẹp muốn mở rộng thêm. Sai thành thần vẽ đồ dâng lên, sai các dinh quân đắp. Những vật liệu cần dùng thì do quan trả tiền theo giá” [73, 543]. Nguyễn Văn Thành lúc này với vai trò là Tổng trấn Bắc Thành, mặc dù công việc bộn bề nhưng vua Gia Long đã “sai Thành Quận công trông coi việc này” [105, 102]. Với nhiệm vụ được giao, Nguyễn Văn Thành đã dốc hết trí tuệ, tâm huyết để xây dựng tòa thành mới xứng đáng với vị thế là lỵ sở của vùng đất Bắc Thành.

Trước hết, ông chuẩn bị vật liệu cho xây dựng thành một cách chu đáo: “gỗ và đá đều bào trơn như mài”, đồng thời cho “phá bỏ tháp Báo Thiên và chùa Đằng Châu để lấy gỗ đá sửa thành Thăng Long”. Nhân công thì “trước hết lấy đinh phu của hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận, tiếp đó lấy những nơi không đủ suất chọn lính đến làm, sau nữa lấy đinh phu những nơi được biệt nạp thuế lệ. Lại còn lấy đinh phu những nơi làm ruộng công và ruộng tư đến đóng góp công sức” [105, 101].

Công việc được tiến hành trong 3 năm, đến mùa Thu năm Ất Sửu (1805) thì hoàn thành. Thành Thăng Long từ chỗ là một tòa thành cũ kỹ, chật hẹp sau khi được xây dựng lại đã trở thành một tòa thành “bốn bề nguy nga, trăm lớp đồ sộ”, “từ thời Trần, Lê trở về trước, chưa có thành nào được như vậy” [105, 102]. Thành có “chu vi 1958 tầm, 2 thước 5 tấc. Bệ xây bằng gạch đá, ngoài thành có hào, mở 5 cửa: Đông Nam môn, Tây Nam môn, chính Đông môn, chính Nam môn, chính Bắc môn. Thềm làm theo kiểu trên tròn dưới vuông. Trên thành có lầu, ngoài xây góc thành” [7, 52]. Về kiến trúc và các công trình bên trong của thành được miêu tả như sau:

Lấy phía trong thành Thăng Long làm Hoàn thành, lấy cửa Đoan Môn, điện Kính Thiên làm chuẩn. Phía trước xây dựng cột cờ gọi là Điền đài, cao hơn 100 thước. Thành ngoài mở 7 cửa, trên cửa đều có lầu, các lầu đều có cột đồng. Chung quanh thành, cho dẫn sông Tô Lịch làm thành hào, khơi thông những nơi bị lấp tắc, mở rộng chỗ hẹp, những đoạn lồi lõm đều không tránh. Trên hào, dùng gạch nung chín làm cầu, nền thành rộng 7 trượng: mặt thành rộng 2 trượng, trong thành có 5 đoạn tường, phía trên đắp Nữ tường, có lỗ châu mai. Thành xây dựng theo quy định phải gấp khúc, như hình bông hoa Hồi Hương [105, 102-103].

Việc sắp xếp các cơ quan trong thành cũng được chú trọng. Ngoài việc sắp đặt các doanh vệ được đặt dọc ngang như bàn cờ, còn có:

...Trong cửa thành phía Đông Nam xây khởi đường, gọi là nhà Hiệp Nghị, đặt 6 phòng để giữ công văn, giấy tờ và các công văn phát trạm.. Ngoài thành đặt nhà trạm là nơi niêm yết các chiếu thư. Góc cửa Bắc đặt kho chứa lương. Trong thành nội có núi Nùng dựng Hoàng cung, chính điện tòa, tả hữu vu 6 gian xung quanh xây tường gạch... Ngoài đường hẻm là cửa Đoan môn [39, 62].

Ngoài ra, trong khi xây dựng lại thành Thăng Long, quan Tổng trấn đã cho làm một ngôi chợ lớn [chợ Đồng Xuân] ở tại cửa chính phía Đông thành. Ngoài ra, “đã phân chia quán xá, đường đi sao cho thật thẳng và vuông vức. Phía ngoài cùng của chợ được bao bằng bờ lũy đất, trên có trồng tre làm hàng rào, có thể tùy chỗ mà mở cửa ổ. Trên cửa có lầu gác súng”, “Tại những rẻo đất trống, người ta cho trồng những cây như mít, chuối tiêu” [105, 103]. Chợ Đồng Xuân sau này trở thành một trong những ngôi chợ lớn ở Hà Nội. Rõ ràng, trong quá trình xây dựng thành Thăng Long-trung tâm chính trị hành chính của Bắc thành thời bấy giờ, Tổng trấn Nguyễn Văn Thành đã kết hợp mở mang đường sá giao thông và xây dựng những công trình phục vụ dân sinh.

 Đặc biệt, cùng với thời gian xây dựng thành Thăng Long, Nguyễn Văn Thành đã cho “xây dựng cột cờ gọi là Điền đài, cao hơn 100 thước”, “kích thước cũng khéo”. Điền đài chính là Kỳ đài hay cột cờ Hà Nội ngày nay,

Kỳ đài là một dạng kết cấu hình tháp, gồm 3 tầng và một thân cột. Các tầng đế đều xây theo dạng hình chóp vuông cụt, tầng nọ chồng lên tầng kia, chung quanh đều được ốp gạch chắc chắn. Tầng 1 cao 3,1 mét, mỗi chiều dài 42 mét. Tầng 2 cao 3,7 mét mỗi chiều dài 27 mét, xây 3 cửa theo 3 hướng, có đặt tên riêng. Cửa Nam đắp chữ Hướng Minh, có nghĩa là hướng về ánh sáng. Cửa Tây đắp chữ Hồi quang, có nghĩa là ánh sáng quay về. Cửa Đông đắp chữ nghiêm húc, có nghĩa là đón ánh sáng ban mai... tầng 3 của tòa kỳ đài cao 5,1 mét, mỗi chiều dài 13 mét. Toàn bộ ba tầng hình chóp cụt vuông này cao 11,9 mét. Trên tầng ba xây cột cờ hình trụ bát giác, cao 18,2 mét. Đình cột cờ xây tòa lầu bát giác, cao 3,3 mét. Giữa lầu là trụ tròn, là chỗ để cắm cờ [7, 66].

Với thiết kế và chiều cao như vậy, khi đứng trên đỉnh kỳ đài có thể quan sát một vùng rộng lớn thành Hà Nội. Từ lâu, Kỳ đài - một “tác phẩm” do Tổng trấn Nguyễn Văn Thành kiến thiết đã trở thành một trong những biểu tượng của Hà Nội. Ngoài ra, hình ảnh lá cờ tung bay trên đỉnh kỳ đài đã được các thi nhân đương thời so sánh như là “một vật thể treo ánh sáng ban mai lơ lửng” trên bầu trời Hà Nội và gọi hình ảnh đó là “Việt Thành kỳ quải húc”- danh thắng đẹp nhất trong 30 danh thắng của Hà Nội lúc bấy giờ. Sau này, khi tôn tạo đền Ngọc Sơn, Nguyễn Văn Siêu đã cho bắc một chiếc cầu từ bờ dẫn đến đảo Ngọc để đón ánh nắng buổi sớm soi vào đền, rồi đặt tên cho cây cầu gỗ đó là Thê Húc kiều. Cầu Thê Húc ở hồ Gươm là hình ảnh thân thương của người dân Hà Nội và được nhiều du khách biết đến khi tới đây. Tuy thế, hình ảnh ánh nắng ban mai treo trên lá cờ ở thành Hà Nội có trước cầu Thê Húc 50 năm thì còn ít người biết đến.

 Cùng thời gian sửa lại thành Thăng Long, tháng 8 năm Ất Sửu (9-1805) “Quận công Nguyễn Văn Thành cho xây Khuê Văn Các ở học đường phủ Hoài Đức, bên ngoài giếng vuông trước cửa Văn Miếu” [105, 148]. Về kiến trúc, Khuê Văn Các có kiến trúc dạng cổ lầu gồm 2 tầng. Tầng dưới không xây tường, chỉ có 4 trụ gạch được dựng trên một nền vuông lát gạch Bát Tràng, bốn bề trống không. Trên các mặt trụ đều có chạm trổ hoa văn tinh tế. Tầng gác bên trên là một lầu vuông có 8 mái, kết cấu bằng gỗ. Sàn gỗ tầng trên của Khuê Văn Các có hai khoảng trống để làm cầu thang lên gác, bốn cạnh sàn cũng đều có diềm gỗ chạm trổ sắc sảo. Cả bốn mặt tường bịt ván gỗ, mỗi mặt đều trổ một cửa tròn có những thanh gỗ chống tỏa ra bốn phía-tượng trưng cho sao Khuê và ánh sáng phát ra từ đó. Bốn góc lầu có hàng lan can bằng gỗ tiện, mái ngói được nâng bởi những giá gỗ đơn giản, vững chắc mà thanh thoát. Mái mỗi bề xếp thành hai lớp tạo nên một đài tháp tám mái gồm bốn mái thượng và bốn mái hạ. Hai bên phải, trái của gác Khuê Văn là hai cổng nhỏ Súc Văn và Bí Văn (văn hàm súc và văn sáng đẹp). Khuê Văn Các nhỏ nhắn, xinh xắn, kiếm trúc giản dị nhưng tao nhã. Đặc biệt lại dựng ở giữa những cây cổ thụ quanh năm xanh tốt. Cạnh giếng Thiên Quang đầy nước trong xanh, in bóng gác lung linh càng làm tăng thêm vẻ đẹp và ý nghĩa của gác Khuê Văn- công trình được ngợi ca là “viên ngọc sáng” trong Khu di tích lịch sử văn hóa Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Khuê Văn Các cũng được chọn là biểu tượng của thành phố Hà Nội nghìn năm văn hiến.

Mặc dù là công trình với kiến trúc đơn giản, nhưng Khuê Văn Các có ý nghĩa rất lớn. Thể hiện tư tưởng, mong ước sâu sắc, tầm nhìn của Tổng trấn Nguyễn Văn Thành.

 Ý nghĩa đầu tiên thể hiện rõ nhất ngay tên gọi của các Khuê Văn. "Khuê" tức là sao Khuê - một ngôi sao trong chùm 28 vì sao (thập nhị bát tú) trên bầu trời. Sao Khuê là ngôi sao sáng, chủ về văn chương. Còn “Các” cũng có nghĩa tương tự như chữ “lâu”, đều chỉ một cái lầu trên cao. Nhưng chữ “Các” quý phái hơn (đài các) còn chữ  “lâu” chỉ thuần túy chỉ cái lầu trên cao. Chính vì vậy, khi đặt tên cho công trình này là Khuê Văn Các, Tổng trấn Nguyễn Văn Thành muốn gửi gắm vào đó là biểu hiện đỉnh cao của trí tuệ, sự thanh cao. Là sự khái quát, sự nhắc lại một chân lý "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”.

Về mặt triết lý, Khuê Văn Các có 2 tầng 8 mái, tượng trưng cho Thái cực. Tầng mái trên nhẹ, mang tính dương. Lớp mái dưới nặng, là âm. Âm dương đối đãi gọi là "Lưỡng nghi", 4 phía mái coi là "Tứ tượng". Tám mái tượng trưng cho bát quái, nóc ở trên là 9. Theo kinh dịch, những con số lẻ (1, 3, 5, 7, 9) là dương, thể hiện sự sinh sôi nảy nở, phát triển. Vì vậy, Khuê Văn Các không chỉ nói đến sự trong sáng của nhà Nho hay tượng trưng cho sao Khuê - sao chủ văn học, mà còn mang ý nghĩa phát sinh, phát triển của vũ trụ, sự tạo lập thế giới nhân sinh. Mặc khác, giếng Thiên Quang ngay dưới chân Khuê Văn Các hình vuông, tượng tưng cho mặt đất. Các cửa sổ hình tròn của gác Khuê Văn tượng trưng cho bầu trời, có ý nói đây là nơi tập trung mọi tinh hoa của đất trời… giếng Thiên Quang và Khuê Văn Các cũng mang yếu tố âm dương đối đãi: "giếng nước là thủy, ở thấp, là âm; Khuê Văn Các cao, là sơn, trên cao, là dương. Với việc xây dựng Khuê Văn Các, Nguyễn Văn Thành đã tạo dựng thêm yếu tố Sơn để tương ứng với yếu tố Thủy, với mong muốn Văn Miếu Quốc Tử giám mãi mãi trường tồn bền vững.

Ngày nay, Khuê Văn Các là biểu tượng của thành phố Hà Nội nghìn năm văn hiến. Nhưng ít ai biết rằng, kiến trúc này chính là ý tưởng của vị Tổng trấn đầu tiên của triều Nguyễn trên đất Bắc thành. Khuê Văn Các thể hiện tầm nhìn về giáo dục và mang đậm tinh thần khuyến học của Nguyễn Văn Thành với tư tưởng coi hiền tài là nguyên khí của quốc gia.

3.2. Cái chết của của Nguyễn Văn Thành

Nguyễn Văn Thành chết trong khi đang ở đỉnh cao của danh vọng và quyền lực. Cái chết của ông không bình thường và cũng không phải ngẫu nhiên, mà thật ra là một sự sắp đặt. Trong “vở kịch” đó, ông chính là nạn nhân của quy luật “địch quốc đã hết thì mưu thần cũng không còn”.

3.2.1. Vụ án văn chương - nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của Nguyễn Văn Thành

Nguyễn Văn Thành có người con trai đầu là Nguyễn Văn Thuyên, thi đỗ Cử Nhân khoa Quý Dậu (1813), là Phò mã của vua Gia Long. Phò mã Nguyễn Văn Thuyên là người yêu thích văn chương, thường hay làm thơ để giao du với những kẻ văn sỹ. Bấy giờ, nghe có người ở Thanh Hóa là Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Nhuận có tiến hay chữ, Nguyễn Văn Thuyên đã làm một bài thơ để mời Nguyễn Văn Khuê và Nguyễn Đức Nhuận đến chơi, nội dung bài thơ như sau:

Phiên âm:        

“ Văn đạo Ái châu đa tuấn kiệt

Hư hoài trắc tịch dục cầu ti

Vô tâm cửu bảo kinh Sơn phác

Thượng tướng phương tri ký Bắc Kỳ

U cốc hữu dương thiên lý viễn

Cao phương minh phượng cửu cap tri

Thử hồi nhược đắc trung sơn tể

Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky” [73, 913].

 

 Dịch nôm:    

“Ái Châu nghe nói lắm người hay

Ao ước cầu hiền đã bấy nay

Ngọc phát kinh Sơn tài có sẵn

Ngựa kỳ ký bắc biết đâu thay!

Mùi hương hang tối xa nghìn dặm

Tiếng phượng gò cao suốt chín mây

Sơn tể phen này dù gặp gỡ

Giúp nhau xoay đổi hội cơ này”

Nguyễn Văn Thuyên sai Nguyễn Trương Hiệu cầm thơ đi mời khách, nhưng Trương Hiệu lại đưa cho Nguyễn Hữu Nghi xem. Nguyễn Hữu Nghi từng là môn khách trong nhà của Nguyễn Văn Thành, do bị tội nên trốn đi, đến làm môn hạ của Lê Văn Duyệt. Nhờ có tài ăn nói nên Nguyễn Hữu Nghi được Lê Văn Duyệt ưu ái, cấc nhắc làm Thiêm sự bộ Hình. Vì muốn trả thù Nguyễn Văn Thành nên Nguyễn Hữu Nghi đã cho tay chân của mình là Trương Hiệu đến làm môn hạ trong nhà Nguyễn Văn Thuyên để chờ cơ hội. Khi nhận được bài thơ do Trương Hiệu đưa, thấy có hai câu thơ: “Thử hồi nhược đắc trung sơn tể/ Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky”, Nguyễn Hữu Nghi đã đưa cho Lê Văn Duyệt xem. Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Thành vốn có hiềm khích nên Lê Văn Duyệt đã đem bài thơ dâng lên vua Gia Long, vua nghĩ sự trạng chưa rõ nên trả lại bài thơ. Trương Hiệu nhân cơ hội đó giữ lấy bài thơ để đòi tiền Nguyễn Văn Thuyên, Văn Thuyên sợ nên đã đem tiền đút cho Trương Hiệu, nhưng do chưa vừa lòng yêu sách, Trương Hiệu lại chặn xe của Nguyễn Văn Thành để đòi tiền. Nguyễn Văn Thành là người thông minh sắc sảo, ông không để Trương Hiệu điều khiển mình và tạo cớ cho người khác vu cáo nên đã ra lệnh bắt cả Trương Hiệu và Nguyễn Văn Thuyên giao sang ngục Quảng Đức, rồi tâu việc ấy với vua. Khi vua Gia Long cho gọi Nguyễn Văn Thuyên và Trương Hiệu vào chầu, vua hỏi Hiệu rằng:

- Ngươi cáo giác Thuyên làm phản. Vậy ngoài bài thơ này ra ngươi còn chứng cớ nào không?

Hiệu nghĩ một lác rồi đáp:

- Bẫm, có Đỗ Văn Chương là nhân chứng thứ hai chứng kiến việc Thuyên đưa bài thơ cho thần?

- Tên Chương hiện nay ở đâu? Gia Long hỏi tiếp

- Dạ, hắn đã về Gia Định mất rồi.

Vì sự việc và chứng cớ chưa rõ ràng, Gia Long nghĩ “lời cáo giác của Trương Hiệu còn có chỗ mờ ám. Xử vụ này bây giờ còn quá sớm, bởi lẽ chính Nguyễn Văn Thành đã cho bắt hai tên kia và  tự tâu bày việc này. Vậy chỉ có thể khép tội Thuyên chức sao khép tội cho Thành được” [93, 205], bèn thả Nguyễn Văn Thuyên ra. Sự việc tưởng chừng đã khép lại thì năm 1816, Ký lục Quảng Trị Nguyễn Duy Hòa lại dâng sớ hạch tội cha con Nguyễn Văn Thành, bản sớ viết rằng:

 Con Văn Thành là Văn Thuyên âm mưu làm phản, sự cơ tiết lộ. Thành không biết đến cửa khuyết chịu tội mà còn áo triều mũ triều, nghênh ngang đứng ở trên các đình thần, như thế thì còn thể thống triều đình gì nữa... Nay Văn Thuyên đã hạ đình nghị, lại được về thăm nhà, pháp luật không thi hành sẽ lấy gì để bảo cho cả nước? Huống chi Thành sửa  điều luật, tự tiện bỏ mất điều kết giao với quan hầu gần vua, đề cử Trần Hựu là giặc mà giấu tội cưỡng gian vợ của người, ngầm kết bè lũ.., xây dựng mả mẹ, vượt phép phạm nhận, xử theo đạo nhân thần, không tội nào lớn hơn [70, 347].

Nhận được bản sớ, vua Gia Long cho triệu đình thần nghị bàn, Nguyễn Văn Thành cũng làm bản sớ tâu lên giải bày rằng: “...khi Trương Hiệu tố cáo con thần là Thuyên làm bài thơ có ý đồ mưu phản, thần...trao ngay nó cho dinh Quảng Đức xét hỏi. Còn việc xây dựng mồ mả, vượt phép phạm phận thì thần đâu dám làm... Tuy nhiên, thần đã già rồi, cũng có lúc nhầm lẫn nên mới tiến cử nhầm Trần Hựu, thần xin lãnh mọi trách nhiệm và xin chịu sự trừng phạt” [93, 206-207]. Các đại thần thấy Thành đã đưa ra những chứng cứ xác thực, hiển nhiên. Mọi việc đều đúng như Nguyễn Văn Thành tâu, bởi vậy những người muốn hại ông cũng không nói gì được và “không một ai muốn kết tội Nguyễn Văn Thành”. Lúc này, Tham tri bộ Hình Võ Trinh lại tâu: “... bài thơ của Văn Thuyên chẳng qua chỉ là thể hiện ý chí của một kẻ trượng phu. Thuyên là kẻ thích khoa trương, lại muốn bắt chước các bậc đại gia, quyền quý triều trước, theo đòi những Mạnh Thường Quân. Kẻ như hắn đâu dám có ý đồ mưu phản” [93, 208]. Triều thần im lặng, không ai tỏ ý phản đối nên nhà vua cho bãi triều.

Bộ Hình vẫn tiếp tục thẩm vấn Nguyễn Văn Thuyên, Thuyên một mực nói rằng mình không có ý mưu phản, là do Trương Hiệu vu cáo cho mình. Trong lúc Nguyễn Văn Thuyên và Trương Hiệu đang tranh biện nhau thì vua Gia Long ra lệnh cho Lê Văn Duyệt “hết sức khảo tra Thuyên”. Bị đánh đau, Nguyễn Văn Thuyên nhận tội làm phản. Nguyễn Văn Thành nghe tin con nhận tội thì dâng biểu trần tình và xin chịu tội. Vua Gia Long đưa tờ biểu của Nguyễn Văn Thành cho đình thần xem, Phạm Đăng Hưng liền tâu: “... [Nguyễn Văn] Thành chỉ khéo nói úp mở, muốn lấy khôn vặt để dối triều đình, xin nhận tội thế này chưa phải là thực tâm đâu” [98, 39]. Quần thần xin hạ ngục Nguyễn Văn Thành nhưng vua Gia Long cho rằng, Nguyễn Văn Thành tuy là người có tội nhưng đối với đại thần nên có cách xử trí khác, rồi ra lệnh thu ấn, cách chức ông và cho về ở nhà riêng.

 Hai tháng sau, vua Gia Long sai làm lại án phản nghịch của Nguyễn Văn Thuyên, bản án luận tội như sau: “Văn Thuyên mưu làm phản, tội trạng rõ ràng. Văn Thành dám che dấu con, lấy yêu ngôn tâu bày, sửa mộ quá phép, tiến cử người bằng nhiều điều bất pháp như thế, xin xử tội chết” [93, 212]. Lúc đó, Tham tri bộ Lại Trần Văn Tuân nói rằng: Văn Thành không biết dạy con tội nhẹ, Nguyễn Duy Hòa tham hặc đại thần tội mới nặng, vua Gia Long đã giận dữ quát rằng: Vậy là muốn khóa miệng người ta à, há chẳng phải bằng danh ah? không có bè đảng sao? Rồi cho bàn lại án.

 Năm này (1817), nhân có việc Lê Duy Hoán nổi dậy làm phản ở Bắc Hà, việc bị phát giác, Lê Duy Hoán bị bắt. Khi bộ Hình tra xét, Lê Duy Hoán khai do Nguyễn Văn Thuyên chủ mưu, gửi thư bảo Hoán làm phản. Nhưng vua Gia Long đã phát hiện ra sự man trá này, liền nói: “Thuyên đang bị giam giữ, canh phòng cẩn mật ngày đêm. Nó làm cách nào mà liên hệ với Lê Duy Hoán được? Các khanh không thấy vô lý sao?” [93, 214]. Lúc đó, không rõ vô tình hay hữu ý mà Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đình Đức lại tâu: “bọn kia ngầm mưu làm càng ngay từ ngày Văn Thành làm Tổng trấn Bắc Thành, chứ không phải đợi khi đã phải tội rồi mới gửi thư” [73, 948]. Sau đó đình thần tâu rằng: xét lại lời cung của Duy Hoán thì tình trạng làm phản của cha con Văn Thành đã rõ. Xin bắt trị tội. Trước đề nghị của các đình thần, Gia Long nói rằng: Trẫm đãi Văn Thành không bạc, nay hắn tự mình làm nên tội thì phép công của triều đình trẫm cũng không thể làm của riêng được, rồi sai bắt Nguyễn Văn Thành cùng các con giam vào ngục Thị trung. Khi đình thần họp ở dinh Võ Công tra hỏi Nguyễn Văn Thành: “có làm phản không?”, ông đáp rằng “không”; lại hỏi “có dự biết không?”, ông vẫn nói  “không” rồi bỏ về nơi giam giữ và bảo với Thống chế Hoàng Công Lý rằng: “án đã xong rồi, vua bắt bề tôi chết, bề tôi không chết là bất trung” rồi đi nằm và uống thuốc độc tự tử. Hoàng Công Lý tìm thấy ở nơi giam giữ có tờ biểu trần tình của Nguyễn Văn Thành, ông đem dâng lên vua, trong tờ biểu Nguyễn Văn Thành nói rằng: “...sớm rèn tối đúc dật thành sự cực ác cho cha con tôi, không tố cáo vào đâu được, chỉ có chết mà thôi” [70, 394]. Gia Long cầm tờ biểu khóc mà dụ rằng: “Văn Thành từ lúc trẻ theo trẫm công lao to. Nay nhất đán đ